Dự án VP6 Linh Đàm Chung cư VP6 Linh Đàm

Thứ 7, 08/08/2020

Đang duyệt: Trang chủ Sự kiện

LỊCH SỬ VỚI HỌ VŨ GỐC VIỆT THƯỜNG

Vấn đề họ, tên của một dòng họ thường gắn liền với nơi cư trú từ thời Nguyên thủy, với lịch sử phát triển Dân tộc thì các dòng họ trở thành vận mệnh của Dân tộc đó, không thể tùy tiện và xem thường.Vì vậy, vấn đề đầu tiên xác nhận dòng họ phải tra cứu thư tịch lịch sử làm cứ liệu. Xét trong Đại Việt sử ký toàn thư phần Ngoại kỷ có ghi:" Buổi đầu vua Hoàng đế dựng muôn nước, đặt Giao chỉ ở phía Tây Nam, ở xa miền Bách Việt. Vua Nghiêu sai họ Hy đến ở Nam Giao định đất Giao chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia đ
 
Về tên Giao chỉ:
Sách Lễ Ký của Khổng Dĩnh Đạt đời Đường chú thích:" Giao chỉ là hình dung từ về người Man khi nằm trở đầu ra ngoài, hai chân gác chéo vào nhau". Sách Hậu Hán thư của Lưu Tống lại giải thích theo cách:" Vì tục con trai, con gái cùng tắm một sông nên gọi là Giao chỉ". Đỗ Hựu đời Nhà Đường có ghi trong sách Thông Điền quyển 182, phần châu quận 14 là:" Giao chỉ là ngón chân cái mở rộng, nếu hai chân cùng đứng thì hai ngón cái giao vào nhau" - Đây là lần đầu tiên sách cổ ghi cách giải thích như vậy, rồi sau như là cách giải thích chính thức tên Giao chỉ. Nhân chủng học lại cho thấy ngón chân cái bị vẹo, choạc rộng là một tật có ở tất cả các giống người, nhưng không phải ai cũng bị.Vậy nên cách giải thích Giao chỉ là ngón chân bị tật choạc ra thỉnh thoảng mới có không thể là cách gọi tên một dân tộc.
Hán tự viết chữ Giao là Giao chỉ, Giao là Giao Long nguyên xưa thông dụng vậy thì tên Giao chỉ do người Hán gọi liên quan đến tục thờ Giao Long của một tộc người ở nam sông Dương Tử.
 
Vậy Giao chỉ là vùng đất nào? Vị trí ở đâu vào thời cổ?
 
Về đất Giao chỉ và Việt thường:
Trước hết, chúng ta phải căn cứ vào thư tịch cổ của Trung Quốc vì thư tịch cổ Việt Nam trải qua binh lửa của hơn 1000 năm Bắc thuộc với sự cấm của Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, rồi đến cuộc tận thu đồ đồng của Mã Viện năm 43 sau Công nguyên, đến thời nhà Minh xâm lược nước ta đầu thế kỷ 15 đã cướp phá sách gần hết sách Việt, năm 1875 cuộc tấn công của Pháp vào Mang cá đốt hết thư khố quốc gia triều Nguyễn đã làm thư tịch cổ Việt Nam muốn tra cứu mất rất nhiều công sức.
 
Xét từ thời Nghiêu Thuấn thế kỷ XXIV đến Nhà Thương thế kỷ XII trước Công nguyên ở Trung Quốc các sách Thư kinh, Thượng thư Đại truyện có ghi :" Vua Nghiêu đặt quan xem thiên văn, định lịch pháp, sai Hòa Thúc ở phương bắc gọi là U Đô,sai Hy Thúc đến phương Nam gọi là Nam Giao" , sách Sử ký ghi:" vua Thuấn đi tuần thú đến Giao chỉ ở phương Nam".
 
Sách Hàn Phi Tử có chép:" Vua Nghiêu có thiên hạ, đất phía Nam đến Giao chỉ, phía Bắc đến U Đô". Đối chiếu với địa chí cổ thì trước Nhà Chu biên giới phía Bắc là Bắc Nhạc tức U Đô là dẫy núi Hằng Sơn ngày nay ở đông bắc tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây là miền U Châu trong thiên Vũ Cống. Nam nhạc là núi Hành sơn ngày nay ở đông nam tỉnh An Huy, địa giới của Trung Hoa cổ đại ở phía Bắc sông Hoàng Hà.
 
Về vị trí Giao chỉ ghi trong Thư kinh, Vũ Cống, Hàn phi Tử, Mặc tử và Sử ký thì không thể xa hơn tỉnh An Huy ngày nay - Quyết không phải là miền Bắc Việt Nam ngày nay.
 
Tại sách Thư kinh, Sử ký và Đế điển có việc vua Nghiêu sai vua Thuấn đuổi người Tam Miêu đến miền đất Tam nguy ở phía Tây rồi chia miền bắc Tam Miêu. Vua Vũ đánh Tam Miêu thì thư tịch Trung quốc chép rất nhiều. Sử ký và Ngô Khởi truyện ghi rõ vị trí: " Nước Tam Miêu bên tả là hồ Động đình ( Liền sát hữu ngạn sông Dương Tử) bên hữu là hồ Bành Lãi".
 
Sách Danh Nghĩa khảo ghi Tam Miêu là miền Kinh Dương là Trương Sa và Giang Nam ngày nay. Nếu từ thời Nghiêu - Thuấn đã đánh đuổi, chia cắt Tam Miêu nhưng theo sách Hoài Nam Tử thì đến đời Nhà Thương vẫn còn Giao chỉ, vậy có nghĩa là đất Giao chỉ xưa bao gồm tỉnh An Huy, phần đông bắc tỉnh Hồ Nam cùng phía Bắc tỉnh Giang Tây - nghĩa là miền Châu Kinh Dương tại sách Vũ Cống ở vào vùng Hoa Nam, miền hạ lưu sông Dương Tử.
 
Thời ấy, vùng đất Kinh Dương còn ngập nước và đầm lầy nên người Giao chỉ sống chủ yếu bằng nghề đánh cá. Sách Trang tử thiên Tiêu diêu du có ghi là:" Người Việt ở đất châu Dương cạo tóc xăm mình" Các sách Sử ký, Tiền Hán Thư, Địa lý chí cùng ghi là: " Người Việt cạo tóc, xăm mình". Ứng Thiệu ở thế kỷ thứ II sau Công Nguyên và Cao Dụ đều viết: " Người ta rạch mình ra lấy mực bôi vào thành hình trạng giao long". La Hương Lâm viết trong Cổ đại Việt tộc khảo cũng cho rằng tục xăm mình của người Việt là do sự sùng bái vật tổ ( Totem) mà ra. Như vậy tục xăm mình là tục chung cho người Việt ở vùng Kinh Dương.
 
Vậy người Giao Chỉ có quan hệ gì với tổ tiên Lạc Việt của chúng ta?
 
Sách Thông giám Cương mục của Chu Hi đời Tống, sách Thượng thư Đại truyện, Ngự phê thông giám (quyển 1) soạn lại cổ sử có ghi:" Năm Mậu Thân đời Đường nghiêu thứ 5 ( Năm 2353 trước Công Nguyên), Nam di có Việt Thường hiến rùa lớn". Sách Thông chí do Trịnh Tiêu nhà Tống ghi rõ hơn:" Đời Đào Đường, Nam di là Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa nghìn tuổi,rộng hơn 3 thước,trên lưng có chữa khoa đẩu chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch"
 
Đến sách Sử ký có chép: "Năm Tân Mão (1109 trước Công Nguyên – cách đây 3121) vua Chu Thành Vương có nước Việt Thường ở phía Nam xứ Giao chỉ đem cống chim bạch trĩ. Nhà Chu phải có người thông ngôn mấy lần mới hiểu được. Quan nhà Chu là Chu Công Đán chế ra xe chỉ nam để đưa sứ Việt Thường về nước". Sách Thượng thư Đại truyện có ghi:” Ở phía nam Giao chỉ có nước Việt Thường”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng đất Giao chỉ đến đời Chu Thành Vương ( 1042 – 1021 trước công nguyên) thì gọi là Việt Thường.Khâm định Việt sử cương mục ghi:” An dương Vương xây thành Cổ Loa ở đất Việt thường”.
 
Vậy Việt Thường là một dân tộc riêng ở vùng Âu Lạc tại Bắc bộ Việt Nam ngày nay, khác với Ngô Việt ở Nam sông Hoàng Hà, Mân Việt ở vào khoảng Quảng Châu và Bách Việt ở vào khoảng Quảng Tây và lưu vực sông Tây giang, Quế Lâm, Nam Hải. Như vậy tộc Việt thường không liên quan gì đến tộc Giao Chỉ, có chăng chỉ là sự hôn phối giữa các bộ tộc.
Bởi vậy, năm Quý Tỵ (207 trước Công nguyên) Triệu Đà đánh được An Dương Vương Thục Phán thì nhập nước Âu Lạc vào quận Nam Hải ( Vùng đất Giao Chỉ) lập ra nước Nam Việt đóng đô ở Phiên Ngung tại cửa sông Tây Giang gần Quảng Châu ngày nay.
 
Bách Việt lìa tan:
Năm 221 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung quốc (Bắc sông Hoàng Hà) kết thúc thời Chiến quốc. Nhà Tần là một đế quốc tập quyền hùng mạnh. Năm 218 trước Công nguyên, Nhà Tần phái Hiệu úy Đồ Thư cầm 50 vạn quân chia làm 5 đạo vượt sông Hoàng Hà tiến về phía Nam đánh Bách Việt. Chỉ 3 năm, quân Tần đã chiếm được Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt. Nhà Tần phát những người bị tội vào ở lẫn lộn với người Bách Việt 13 năm (Sách Hoài Nam tử của Hoài Nam Vương Lưu An viết năm 190 trước Công nguyên). Quân Tần tiến vào Tây Âu ( ở vào vùng Quảng Tây Trung Quốc bây giờ) giết được Quận trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Năm 214, quân Tần vào đất Lạc Việt, bị khốn hơn 10 năm, người Lạc Việt không chịu hàng bỏ vào rừng ăn ở với cầm thú, đêm ra đánh, lâu ngày quân Tần hết lương, bèn phá tan quân Tần chết mấy chục vạn, giết được Đồ Thư. Năm 207 trước Công nguyên, Nhà Tần mất.Từ sau thời Tần, trong các sách cổ sử không còn thấy nhắc đến tên Bách Việt, chỉ còn Việt thường, Lạc Việt.
 
Người Lạc Việt và Việt Thường:
Sau cuộc xâm lược của Nhà Tần, người Việt di cư ồ ạt xuống phương Nam. Sách Việt giang lưu vực nhân dân sử của Nhà sử học Từ Tùng Thạch thì về mặt Nhân chủng học các giống người Chuỳnh, Dao, Xá, Đản, Lê, Lái ở Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ đều là di duệ của các nhóm Việt tộc. Sách Sử ký ẩn viết rằng người Mân Việt (Phúc Kiến) họ Lạc. Xét chữ Lạc trong chữ Hán là chỉ một giống chim Lạc tương tự ngỗng trời (?) Trên các trống đồng Việt cổ có khắc hình chim Lạc, có phải là vật tổ ( Totem ) của người Việt Thường rồi lấy làm họ? Đây là vấn đề còn phải nghiên cứu thêm. Chỉ biết rằng, Lạc Việt hay Việt Thường là những tộc người Việt cổ cư trú tại vùng Bắc bộ Việt Nam ngày nay và có một nền văn minh sớm, rực rỡ về chữ Viết, nghề đúc đồng rất tinh xảo, nghề nông và nghề sông biển!
 
Văn minh cổ đại của Người Việt:
Thư tịch cổ Trung quốc từ đời nhà Thương trở về trước đều có ghi tên Giao chỉ, sang đến Nhà Chu thì xuất hiện chữ " Di Việt". Sách Thế Bản ghi rõ:" Người Việt họ Mi, cùng tổ với Sở Vương".
Căn cứ sử liệu cho ta thấy cách đây hơn 4,400.(Bốn nghìn bốn trăm) năm và xa hơn nữa các tộc người Việt cổ đã có họ. Vì có họ nên mới có tên, việc này ghi chép rất nhiều trong các thư tịch cổ.
Thời nhà Chu(Năm 1046 - 256 trước Công Nguyên – cách đây 3058) đã có các học thuyết sâu sắc về triết học như Lão Tử, Khổng Tử, Mặc Địch, Dương Chu,... và các Nhà Pháp gia như Thân Bất Hại, Hàn phi tử, Thi Giảo, Điền Biền.Vũ Vương nhà Chu đã dặt ra Quan chế, Pháp chế, Binh chế, Điền chế và Học Hiệu chia ra Đông Tự làm Đại Học, Tây Tự làm Tiểu học.Đã sản xuất ra đồ sắt,thủy tinh,sứ,vải lụa gấm vóc,…
 
Đó là chưa nói tới các công trình nghiên cứu hơn 20 năm qua tại Việt Nam đã công bố là vào thời kỳ Văn Hóa Phùng Nguyên cách đây hơn một vạn năm, người Việt Cổ đã có chữ viết là các ký tự hình học trên đá ở cao nguyên đá Sapa và Đồng Văn, trên đồ gốm và đồ đồng ( in trên thân trống Lũng Cú) Gò Mun và Đông Sơn.
 
Năm 1930, Nhà khảo cổ M - Colan phát hiện ở vách đá Lan Gan - Hòa Bình nhiều hiện vật gốm quý hiếm, trong đó có 2 đĩa gốm cổ có khắc chữ Việt cổ có trước đến 6000 năm chữ Giáp - Cốt đời Ân - Thương (1392 - 1122 trước Công nguyên).
 
Nhà văn hóa Phạm Thận Duật nửa cuối thế kỷ 19, khi ông làm Tri Châu ở Tây Bắc năm 1855 có tìm ra được chữ Việt cổ viết theo chiều ngang, gồm 18 chữ cái theo vần bằng và 18 chữ cái theo vần trắc. Việc này, đối chiếu với cuốn" Tự điển Việt - Bồ - La" của Alexanre de Rode viết:" Đối với tôi, người dậy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần anh ta đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ". Đến nay, với các kết quả nghiên cứu mới nhất cho thấy chữ Quốc Ngữ ngày nay có thể là sự kết hợp giữa chữ Việt cổ và chữ La tinh.
 
Những cuốn sách Quốc Ngữ đầu tiên xuất bản khoảng những năm 1618 đến 1651 hiện không thể đọc được, chỉ sau khi giải nghĩa được chữ Việt cổ - Chữ KHOA ĐẨU mới hiểu nghĩa phần nào như Sinunua: Xứ Hóa ( Thuận Hóa) Quignin: Qui Nhơn, Omgne: Ông Nghè,....
 
Ngay tại Trung Quốc, Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt tỉnh Quảng Tây công bố khám phá khảo cổ học:
" Thật là một tin vui lớn nhưng không quá bất ngờ vì khi hiểu chữ Việt cổ đã biết sự kiện sau:
1/ Văn bản chữ Việt cổ trên bình gốm di chỉ Bán Pha 2, gần An Huy, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc có tuổi 12,000.năm. Chữ khắc trên yếm rùa di chỉ Giả Hồ tỉnh Hồ Nam Trung Quốc có tuổi 9,000.năm.
2/ Một số chữ tượng hình cổ phát hiện ở Sơn Đông là nơi cư trú của người Việt cổ.
3/ Lịch sử hình thành dân cư Trung Quốc mới phát hiện, thì thời gian này trên địa bàn Trung Quốc chỉ có người Việt sinh sống, người Hoa Hạ chưa ra đời, chứng tỏ rằng đó là chữ của người Lạc Việt từ bãi đá Sapa đi.
Nhà Thương là một dòng dõi Việt sống ở nam Hoàng Hà nên cùng sở hữu chữ viết tượng hình này.Sau này trên cơ sở Giáp cốt và Kim văn, cộng đồng người Việt và Hoa trong Vương triều Chu chung tay xây dựng chữ tượng hình Trung Hoa"
(Trích nguyên văn Báo cáo nghiên cứu Khảo cổ học ngày 20/2/2012).
 
Chúng ta hết sức trân trọng sự khách quan khoa học của các Nhà Khoa học Trung Quốc. Với khoa học thì không có gì dễ hiểu hơn vào thời cổ đại, điều kiện và trang bị sống của người cổ đại còn thô sơ đương nhiên phải cư trú tại những vùng ấm áp, sau này khi văn minh hơn họ mới tiến về những vùng băng giá.
 
Vậy mà, ngay tại ở Việt Nam lại có Học GIẢ ( !) có ý kiến cho rằng hơn 2000 năm trước đây người Việt không có họ quả là sự ấu trĩ cố hữu, miệt thị chính Dân tộc mình mà không biết gì đến sử học của Nước nhà. Ý kiến như vậy không khỏi làm hổ thẹn giới trí thức và sử học! Ngầm ý của mấy vị Học Giả này là để bác bỏ nhân vật lịch sử Anh Hùng Dân tộc Vũ thị Thục Nương đã cất quân khởi nghĩa đánh quân Đông Hán trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng và đội quận tinh nhuệ của Bà còn cầm cự 54 ngày sau khi Hai Bà Trưng thất bại - Là Tổ Mẫu họ Vũ Võ gốc Việt Thường như bức thư chúc mừng của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.
 
Họ Vũ - Võ là một họ lớn, có nhiều Chi Họ trong Đại gia đình Dân tộc Việt Nam, những đóng góp to lớn của Họ Vũ - Võ vào lịch sử dựng Nước và giữ Nước ta đã được Lịch sử Việt Nam và Bắc sử ( Trung Quốc) ghi nhận. Lịch sử là quá khứ không thể thay đổi và bác bỏ được.
 
Những lý sự không có cơ sở khoa học chỉ nhằm để bảo vệ cho lý thuyết của các vị này là Cụ Vũ Hồn là Thủy tổ duy nhất họ Vũ - Võ việt Nam.
 
Về Lịch sử, Đại Việt Sử ký toàn thư – Ngoại kỷ, quyển 5, kỷ thuộc Nhà Đường có ghi rõ: “Tân Dậu ( năm 841 sau Công nguyên) Đường Vũ Tôn Viêm, Hội xương năm thứ 1. Nhà Đường xuống chiếu lấy Vũ Hồn làm kinh lược sứ thay Hàn Ước ( Xem Tân Đường thư, quyển 8,Bản kỷ, Hàn ước truyện – Việt sử lược) .
Quý Hợi (năm 843 sau Công nguyên), Hội xương năm thứ 3. Kinh lược sứ là Vũ Hồn bắt tướng sỹ sửa đắp phủ thành, tướng sỹ làm loạn,đốt lầu của thành, cướp kho phủ. Vũ Hồn chạy sang Quảng Châu. Giám quan là Đoàn Sĩ Tắc dụ yên được bọn làm loạn
( Xem Tân Đường thư quyển 8, Bản kỷ 8, Năm Hội Xương thứ 3)
Như vậy, về lý mà xét bối cảnh xã hội lúc đó thì Cụ Vũ Hồn không thể định cư ở Việt Nam, nhất là lại từ quan, thân cô, thế cô không còn quyền hành gì càng dễ bị trả thù.
 
Lại xét xứ Hải Dương vào năm 843, cách đây 1169 năm ghi trong An Nam chí lược quyển 1 – Quận, Ấp của Lê Tắc đời Trần nước ta có 15 lộ, thì Hồng lộ là Hải Dương có tên vào năm 1469 đời Lê Thánh Tông (Xem Chính sử - Cương mục,sách đã dẫn). Về tên gọi Hải Dương, Phạm Đình Hổ ( 1768 – 1839) quê làng Đan Loan, huyện Dường An, phủ Bình Giang trấn Hải Dương ( Tỉnh Hải Dương bây giờ) là một danh Nho viết về thiên Xứ Hải Dương trong Vũ Trunng tùy bút: ” Xứ hải Dương đời cổ là Hồng Lộ và Sách Giang lộ. Thuộc Minh mới đặt ra bốn phủ: Thương Hồng, Hạ Hồng,Kinh Môn,Nam sách,….Đời Trần, đời Lý gọi là Uy Lộ. Thế thì xứ Hải Dương ta khi xưa chỉ là hai lộ với một phủ. Phủ Kinh Môn là những nơi đất liền với bể Đông,…Cổ nhân cho rằng phía Nam có núi, phía Bắc có sông bể thì gọi là Dương. Sách Cổ chí mới biết địa thế nước ta,…đời xưa cửa bể còn ở cuối sông Hoàng Giang “ Như vậy chỉ mới nửa cuối thế kỷ 18 địa giới Hải Dương vẫn có chỗ liền với biển.
 
Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết thời Lê Sơ ( Lê Thái Tổ - Lê Lợi) có ghi vùng Bình Giang Hải Dương nước ngập. Cần tra cứu để xác nhận vị trí đất Mộ trạch trong các bản đồ cổ nước ta. Sử sách có ghi” Năm Tân Mão và năm Nhâm Thìn (1171 – 1172 sau Công nguyên) Lý Anh Tông đi chơi xem xuyên sơn hiểm trở, đường sá xa gần và sự sinh hoạt của dân gian rồi sai quan làm quyển địa đồ nước An Nam”.Đời Trần và các triều đại sau cũng có làm địa đồ nhưng đến nay không còn thấy dấu tích các bản đồ ấy.Duy có đời Lê Thánh ( 1460 – 1497) “ Thánh Tông bèn sai quan ở các đạo xem xét ở hạt mình có những núi sông gì,hiểm trở thế nào phải vẽ địa đồ ra cho rõ ràng và chỗ nào có những sự tích gì phải ghi chép tường tận, rồi gửi về Bộ Hộ để làm quyển địa dư nước ta” – Đây là Hồng Đức bản đồ còn lại đến ngày nay.
 
Nhiều thế kỷ sau năm 843 sau Công Nguyên, có thể vào trước hoặc sau năm 1000 sau Công nguyên , lớp cháu chắt nhiều đời sau Cụ Vũ Hồn mới sang định cư ở Mộ Trạch thì về mặt sử học hợp lý hơn vì theo các bản sắc phong thần còn lưu ở đình làng Mộ trạch thì sắc phong sớm nhất là vào đời nhà Trần ( Chưa rõ năm).Vinh quang, hiển hách, huy hoàng của một dân tộc, một dòng họ, một chi họ không liên quan Lịch sử dài hay ngắn mà chính là sự đóng góp cho văn hiến xã hội, cho dân tộc,… như hiện thực xã hội, hiện thực đã chứng minh. Vì vậy văn hiến lớn nhất của Làng Mộ Trạch là sự đóng góp, xây dựng nền văn minh Đại Việt với 18 văn bia tiến sỹ Mộ Trạch trong 82 văn bia tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội.Các bậc Tiên Liệt dù ở bất cứ dòng họ nào cũng đều rất đáng kính trọng, tuy nhiên phải đặt đúng vị trí CHA – ÔNG vào lịch sử Dân tộc thì mới thật vững bền.
 
Về Nữ Anh hùng Dân tộc – Thánh Mẫu Vũ thị Thục Nương, chúng ta chỉ cần đến trước Đền Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để kính cẩn trước ANH LINH của Bà Vũ thị Thục Nương đã được nhân dân vùng duyên hải Bắc bộ và toàn dân nước Việt thờ cúng trải suốt 1969 năm không dứt, Đền thờ và Lễ Hội của Bà đã là cấp Quốc Gia, sẽ thấy công đức của Bà, uy linh của Bà hiển hách đến chừng nào.
 
Cả một giải đất Việt Nam với 54 Dân tộc và hàng trăm dòng họ từ hơn 4000 năm qua của các tộc người Mân Việt, Ngô Việt, Bách Việt, Việt Thường và cả những người Hán di cư xuống phương Nam đã chung sức dựng nước và giữ nước Lạc Việt đời đời bền vững đều xứng đáng tôn vinh, thờ phụng !
 
 
Vũ Ngọc Phương – Chủ Tịch
Trung ương Hội Khoa học phát triển
nguồn Nhân lực - Nhân tài Việt Nam
 
 
 
 

Đánh giá của bạn về bài viết

Tổng số: 0 Trung bình: NaN
HỘI NGHỊ, GIAO LƯU BAN LÃNH ĐẠO TW HỘI KHOA HỌC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC - NHÂN TÀI VIỆT NAM VỚI CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC VÀ BAN VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP THÀNH HỘI NHÂN LỰC - NHÂN TÀI HÀ NỘI
người đẹpTrung tâm Hợp tác Quốc tế và Phát triển Tài năng ViệtVIETNET-ICTYVS Vietnam