Chi tiết bài viết

MỘT THOÁNG GIA ĐÌNH VÀ THỜI ĐỔI MỚI (PHẦN 2)

GIA PHONG DANH NHÂN VĂN HÓA VŨ NGỌC PHAN

(Đã đăng trên Tạp chí Vũ - Võ Hải Phòng, Tạp chí Vũ Võ VN

xuân Giáp Ngọ 2014 và một số Tạp chí và Tuần báo)

Tác giả Vũ Thị Thành - Sưu tầm.

 Nhà văn Vũ Ngọc Phan sinh ngày 08/9/1902 tại Hà Nội, mất năm 1987. Nguyên quán của Ông là làng Đông Cao, xã Đông Cứu dưới chân núi Thiên Thai ở huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh. Phu nhân của ông là Bà Lê Hằng Phương (1908 – 1983) nguyên quán xã Gò Mổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh ra Bà là Nhà Văn hóa Lê Dư là một trong những người đã tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Bà là cháu ngoại Cụ Hoàng Diệu. Bà cũng là chị ruột của bà Lê Hằng Huân, vợ của Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn (tức Vũ Nguyên Bác, vị tướng lừng danh của Quân đội Việt Nam và Hồng quân Trung quốc). Bà là một trong 4 nhà thơ Quốc Ngữ đầu tiên của nền văn học Việt nam đầu thế kỷ XX. Thơ văn của bà không nhiều nhưng rất nổi tiếng về trữ tình trong lịch sử văn học Việt Nam và cũng được nhiều nước dịch và xuất bản ở nước ngoài.

 Xuất thân trong gia đình có truyền thống Nho giáo lâu đời, thủa nhỏ Vũ Ngọc Phan học chữ Hán rồi chuyển sang học chữ Pháp. Năm 1929 ông đỗ Tú tài toàn phần và được Toàn quyền Pháp bổ làm quan nhưng ông không nhận mà chọn nghề viết văn, làm báo, dậy học để nuôi một đại gia đình gần 20 người gồm mẹ già, vợ con, cháu, 3 người em và ông sống trong cảnh bần hàn.

 Học rộng biết nhiều, là một Trí thức yêu nước, ông sớm tham gia hoạt động xã hội. Trong các tác phẩm Văn học và triết học của ông, năm 1930 ông là dịch giả đầu tiên dịch bộ Tư Bản của Karl Mark ra tiếng Việt và cộng tác với Phan Bôi - Hoàng Hữu Nam, năm 1935 ông viết 2 tập sách “Những trận đánh Pháp”. Ông bị Mật thám Pháp bắt và quản thúc một thời gian tại Hà Nội. Nhà văn Vũ ngọc Phan và Nhà thơ Hằng Phương đều tham gia Cách mạng từ thời kỳ tiền Khởi nghĩa trong Mặt trận Dân chủ Đông dương và Hội truyền bá Quốc Ngữ 1936 - 1939 cùng với các ông Phan Thanh,Võ Nguyên Giáp, .... Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Chủ Tịch Uỷ Ban Văn hoá Bắc bộ, viết Báo Tiền Phong (tiền thân Báo Nhân Dân) từ trước Tổng khởi nghĩa 1945. Bà Lê Hằng Phương là một trong năm người sáng lập Hội Phụ nữ cứu quốc tiền thân Hội Phụ nữ Việt Nam ngày nay. Sau khi Cách Mạng tháng Tám - 1945 thành công, ông là Chủ tịch Uỷ Ban vận động Văn hoá kháng chiến toàn quốc và giữ nhiều cương vị trong Ngành Văn hoá, Văn nghệ Cách mạng. Ông quan tâm hướng dẫn thế hệ sau giúp nhiều người sau này thành đạt là những Nhà Văn hoá lớn đương thời. Ông minh mẫn làm việc đến những ngày cuối cùng của cuộc đời và đột ngột qua đời sau một cơn cảm nhẹ ngày 17/6/ 1987 thọ 85 tuổi. Ông qua đời để lại niềm thương tiếc của bạn bè trong Nước và Quốc tế.

 Sự nghiệp Văn học gần 60 năm của ông để lại một khối lượng đồ sộ các tác phẩm trước tác và dịch thuật, nhiều bài viết báo và tạp chí với nhiều thể loại văn học. Năm 2000, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất Bản tuyển tập “VŨ NGỌC PHAN TÁC PHẨM” gồm 5 tập hơn 2.000 trang. Lần này, Nhà xuất bản Văn Học xuất bản nguyên tác “VŨ NGỌC PHAN TUYỂN TẬP” trọn bộ gồm 04 quyển gần 4.000 trang, với số lượng là 4.000. cuốn. Theo kế hoạch Nhà nước đến năm 2015 sẽ xuất bản toàn bộ các trước tác  “VŨ NGỌC PHAN TOÀN TẬP” gồm hơn 10 bộ có số trang lên tới hơn 10.000. trang. Tác phẩm lớn của ông có 5 tập “NHÀ VĂN HIỆN ĐẠI” dầy hơn 1.600 trang xuất bản năm 1942 viết về các Nhà văn, Nhà thơ tiêu biểu của Văn học đương thời nửa đầu thế kỷ XX. Bộ “TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM” dầy gần 1.000 trang xuất bản năm 1956, đến nay đã tái bản 11 lần. Ông là người có công mở đầu cho Phê bình Văn học hiện đại Nước Nhà và là người đầu tiên nghiên cứu phân loại Văn hoá Dân gian một cách có hệ thống, có khoa học. Ông được Nhà Nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Ngày nay tại Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng đều có đường phố mang tên ông - Phố Vũ Ngọc Phan. Gia đình Nhà Văn Vũ Ngọc Phan là một Gia đình Trí thức Cách Mạng tiêu biểu cho Thanh Liêm, Chính trực và Tài Đức của dòng họ Vũ Võ Việt Nam.

 Nhà văn Vũ Ngọc Phan và Nhà thơ Hằng Phương. Ảnh chụp năm 1935

 Nhà văn Vũ Ngọc Phan và Nhà thơ  Hằng Phương. Ảnh chụp năm 1941

 

Ảnh gia đình nhà văn Vũ Ngọc Phan chụp năm 1958.

Hàng trước từ trái sang: Nhà thơ Lê Hằng Phương, Vũ Phi Hồng, Vũ Ngọc Phương, Vũ Triệu Mân, Nhà văn Vũ Ngọc Phan. Hàng sau từ trái sang: Vũ Hoài Tuân, Vũ Tuyên Hoàng, Vũ Giáng Hương, Vũ Huyền Giao, Lê Cao Đài (Chồng chị Vũ Giáng Hương, sau này là Giáo sư, Đại tá Quân y, Anh hùng Lực lượng Vũ trang )

Gia đình Danh nhân văn hóa Vũ Ngọc Phan có tất cả 10 người con, ba người con là: Vũ Bội Trinh, con gái đầu và Vũ Ái Châu, con gái thứ 9 mất khi còn nhỏ. Một người con trai thứ sáu là Vũ Hồng Côn mất năm 16 tuổi trong kháng chiến chống Pháp ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, vì căn bệnh đau ruột thừa mà không có điều kiện chữa. Sau này, Nhà thơ Lê Hằng Phương có viết bài thơ “ Hồng Côn con yêu của mẹ” rất nổi tiếng về nỗi đau xé lòng của người mẹ mất con. Bẩy người con còn lại của hai ông bà đã có những đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển dân tộc, trọn đời, họ đều giữ được gia phong thanh liêm, chính trực của truyền thống gia đình. Gần như ở Việt Nam và thế giới đều biết đến các người con sau đây của Ông Bà Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương:

 1/ Giáo sư, Họa sỹ Vũ Giáng Hương (1929 – 2011), Chủ Tịch Ủy Ban quốc gia Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Bà là trưởng nữ, từ nhỏ phải trông các em gồm cả 2 người cháu, làm việc nhà. Cha Bà đã dậy Bà học, sau này tất cả các kiến thức của Bà đều là tự học, tự rèn luyện. Khi tuổi trẻ cho đến cuối đời, Bà đã tham gia vào kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, cũng như tất cả những biến đổi sâu sắc của xã hội Việt Nam như cải cách ruộng đất, hợp tác xã, cải tạo công thương, thời kỳ đổi mới,... Bà đã chứng tỏ là một Nhà trí thức sâu sắc được trong nước và nước ngoài coi trọng. Bà cũng trải qua nhiều chức vụ trong Ngành Văn Hóa Văn nghệ Việt Nam được sự kính trọng của giới Văn nghệ sỹ Việt Nam. Bà để lại nhiều tác phẩm Mỹ thuật tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

 2/ Liệt sỹ Vũ Hoài Tuân (1932 – 1979) Cán bộ Cao cấp, chuyên gia vũ khí nguyên tử đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông tham gia làm quân báo của quân đội nhân dân Việt Nam từ khi còn rất ít tuổi vào tháng 3/1946 được Khu đội trưởng, Trưởng Ban tình báo Đỗ Hữu Dzư xác nhận ngày 5/3/1046. Trong chiến dịch Điện Biên, ông chỉ huy đánh cứ điểm C1. Hình ảnh của ông đứng bên tháp pháo xe tăng vẫn còn ghi lại trên phim  “Chiến thắng Điện Biên”. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã ở Bộ Tư Lệnh tiền phương Quảng Trị và nhiều nơi chiến sự ác liệt. Trong thời gian làm thư ký cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông được Đại Tướng ủy quyền thay Đại tướng dự hội nghị quốc phòng và bất ngờ hy sinh trong tai nạn máy bay ngày 15/3/1979 tại Đà Nẵng.

 3/ Giáo sư Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng (1936 – 2008), Chủ Tịch Liên Hiệp Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng 4 khóa, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp. Ông được Đảng – Nhà nước cử đi học về nông nghiệp tại nước ngoài sau chiến dịch biên giới 1950. Ông là một trong những Nhà khoa học đầu ngành về Nông nghiệp Việt Nam, được giải thưởng Hồ Chí minh đợt II và nhiều giải thưởng hàng đâu về Nông nghiệp Quốc Tế. Ông được giới khoa học Quốc tế bầu là Phó Chủ Tịch Hội đồng khoa học Quốc tế.

 4/ Chuyên gia cao cấp cơ khí Vũ Huyền Giao (1937), ông cùng với người anh Vũ Tuyên Hoàng đi học nước ngoài sau thời kỳ 1950. Ông học về cơ khí và sau này là một trong những chuyên gia hàng đầu về động cơ của Bộ Công Nghiệp nặng ( sau này đổi tên là Bộ Cơ khí và luyện kim).

 5/ Phó Giáo sư Vũ Phi Hồng (1938 -  Bổ sung năm mất là năm 2026), bà là thứ nữ, chuyên về văn học và triết học. Bà tham gia giảng dậy ở nhiều trường đại học lớn trong nước.

 6/ Giáo sư Vũ Triệu Mân (1944), ông là một trong những Nhà khoa học đầu ngành về Bảo vệ thực vật. Ông là cán bộ giảng dạy tại Đại Học Nông nghiệp Việt Nam và một số trường Đại học ở nước ngoài.

 7/ Kiến trúc sư Vũ Ngọc Phương (1950), ông được Đảng – Nhà nước đào tạo làm Cán bộ trong thời kỳ Đổi Mới. Ông được Bộ Chính trị Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo và giao nhiệm vụ tham gia một số công tác đặc biệt thời kỳ này. Ông cũng tham gia vào nhiều lĩnh vực cải cách kinh tế, hành chính, xã hội, văn hóa,... Hiện ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Liên doanh trong nước và quốc tế về đầu tư cơ sở hạ tầng, đồng thời là Chủ Tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân Lực – Nhân Tài Việt Nam.

 Có một đặc điểm có tính truyền thống là các người con của Danh nhân Văn hóa Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương đều có năng khiếu văn học và mỹ thuật từ nhỏ, vì vậy đã để lại một số tác phẩm cho xã hội.

 Hà Nội, tháng 10 năm 2013

 

MỘT THOÁNG GIA ĐÌNH VÀ THỜI ĐỔI MỚI

( Trích Hồi ký Sống giữa Cuộc đời của Vũ Ngọc Phương)

 

*Vũ Ngọc Phương

Mẹ tôi - Nhà thơ Hằng Phương tên thật là Lê Hằng Phương ( Đường phố Hằng Phương Nữ sỹ) sinh ngày 09/09/1908, từ trần 02/02/1983 (ngày (Ngày 20 tháng Chạp năm Nhâm Tuất) tại Hà Nội.

 Vào đêm lạnh giá ngày 02/02 /1983, lúc gần 23g đêm nghe thấy anh Vũ Triệu Mận gọi tôi đang nằm sát cửa sổ phòng 21/E1 Văn Chương, Hà nội ngay đầu cầu thang vì đầu hành lang có cửa song sắt khóa. Tôi trở dậy chạy ra, Anh Mân nói trong hơi thở qua cửa sắt: “ Mẹ mất rồi ! ”. Hai anh em vội đến Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô, lên tầng 3 Khoa thần kinh, phòng cấp cứu thì Mẹ đã qua đời, hai anh em chờ trực đêm Bệnh viện đưa Mẹ xuống nhà Đại thể (Nhà xác). Sáng sớm hôm sau tôi đến Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam nói anh       điều xe đón Cha vào Bệnh viện, Cha Vũ Ngọc Phan biết ngay có việc xẩy ra với Mẹ. Đến Bệnh viện họ đưa Mẹ ra vẫn còn nằm nghiêng, chít khăn len, Cha òa lên nói:

-         “ Khổ quá,...!”.

Năm 1965, trong bài thơ “VUI NGÀY KỶ NIỆM” Mẹ viết về Anh Vũ Hoài Tuân và tôi:

Hôm nay, vui kỷ niệm

Ngày cưới bốn mươi năm

Đầu đôi ta đều bạc

Đất nước rạng màu xuân.

 

Tóc chấm vai ngày ấy

Em đã về với anh

Như đôi chim vụng dại

Giữa cuộc sống chênh vênh.

 

Rồi con thơ bận bịu

Gạo chợ ngày càng cao

Mái nhà thưa gió lọt

Người viết, bóng đèn chao.

 

Mùa thu Cách mạng đến

Căn nhà nhỏ sáng trưng

Bút mừng được giải phóng

Con vui vẻ đến trường.

 

Con lớn đi bộ đội

Pháp thua trận Điện Biên

Qua chín năm kháng chiến

Mới lại có hoà bình.

 

Từ núi rừng chiến thắng

Về thăm lại vườn xưa

Giặc đốt nhà cháy trụi

Trơ nền cũ nắng mưa.

 

Rồi đến ngày chống Mỹ

Con út tuổi nên người

Mơ Đảng cho đôi cánh

Được diệt giặc trên trời…

 

Một mai đây thống nhất

Về quê cũ Quảng Nam

Thăm bà con cô bác

Thăm lại gốc mai vàng.

 

Dù cho giặc tàn phá

Đất dưới chân vẫn còn

Quê nội và quê ngoại

Vẫn một lòng thắm son.

 

Trải hai lần kháng chiến

Gian khổ có nhau cùng

Tóc bạc như xanh lại

Màu tươi mới non sông.

25-12-1965

Lễ kỷ niệm 90 năm Cha tôi năm 1992 ở Hội trường Ủy Ban Khoa học Xã hội số 27 phố Trần Xuân Soạn, Hà nội. Tôi và các Anh, Chị trong nhà đi dự. Nghe thấy mấy cán bộ ngồi sát trước tôi nói chuyện với nhau: 

-“ Cụ Phan (Vũ Ngọc Phan) có người con phi công hy sinh trong chiến đấu chống Mỹ”, sự đời hay có huyên truyền như vậy.

 Sau khi Mẹ mất tôi về thăm Cha nhiều hơn.

 Cha tôi - Nhà văn Vũ Ngọc Phan sinh ngày 08/9/1902 tại Hà Nội, ông đột ngột qua đời sau một cơn cảm nhẹ ngày 17/6/ 1987 ( Ngày 22 tháng Năm năm Đinh Mão) thọ 85 tuổi. Khi Cha tôi mới mệt, anh rể Lê Cao Đài đến thăm bệnh nói ngay: “ Đưa ngay Ông vào Bệnh viện”. Cha tôi vào được mấy ngày thì chuyển bệnh không thở đươc, khi tôi đến Bệnh viện Việt Xô thì Cha tôi đã được đưa xuống Phòng Cấp cứu. Tôi chạy vào thấy Cha tôi nằm mê man trên gường thở khò khè, tôi thương quá đi xúc miệng rồi ra hôp hấp nhân tạo nhưng không được. Trước khi mất Cha còn tỉnh lại ra hiệu lấy giấy bút để viết mấy chữ bằng bút dạ đỏ:

                                     Bút tích gốc của Nhà văn Vũ Ngọc Phan trước khi từ Trần

 Đã khuya, tôi ra ngồi trên ghế ngoài vườn hoa trước Phòng Cấp cứu nói với Chị Vũ Giáng Hương:

- “ Cha không qua được, chỉ nửa đêm nay mất, em về nghỉ một lát rồi chuẩn bị cho Lễ tang của Cha sáng mai”.

Đêm hôm đó Cha tôi qua đời vào giữa đêm về sáng ngày 17/6/ 1987 thọ 85 tuổi. Khi nhận nhiệm vụ ở Hà nội, tôi còn nhớ một buổi tối họp, làm việc với Anh Trần Tấn xong, tôi đạp xe ra về cứ thẳng đường phố Bà Triệu đi đến đường Đê Đại Cồ Việt lúc đó chung quang rất hoang vu, không một ánh đèn đường, Đê Đại Cồ Việt là một đường đất nhỏ gập gềnh, chạy ngoằn ngoèo, trên mặt đường và hai bên toàn cây dần sàng chen lẫn cỏ dại cao gần đầu gối. Đến cuối đường giờ là ngã tư Đường Lê Duẩn thời ấy là đường đất trải đá gọi là đường Giải phóng, tôi mới chợt nhận ra Cha đã mất rồi,... Trời đêm cuối năm se lạnh.

 Mẹ và Cha tôi qua đời để lại niềm thương tiếc của bạn bè trong Nước và Quốc tế.

 

 

Nhà thơ Lê Hằng Phương- Đường Hằng Phương Nữ sỹ 1908 - 1983

(Ảnh chụp năm 1939)

 

Nhà văn Vũ Ngọc Phan 1902 – 1987

(Ảnh chụp 1943)

Hội nghị Văn hóa toàn quốc tháng 11/1946

 Cách mạng thành công tháng 8/1945, Hồ Chủ Tịch mời Cha tôi – Nhà văn Vũ Ngọc Phan tham gia công tác Văn hóa làm Chủ Tịch Ủy Ban Vận động Văn hóa toàn quốc. Cha tôi đã tập hợp được gần hết trí thức nổi tiếng lúc bấy giờ tham gia. Theo chỉ thị của Hồ Chủ Tịch, Cha tôi đã vận động triển lãm và chuẩn bị hoàn chỉnh cho Hội nghị Văn hóa Toàn quốc tháng 11 /1946. Trước đây khi sinh thời, Cha tôi – Nhà văn Vũ Ngọc Phan và Mẹ tôi – Nhà thơ Hằng Phương giữ gìn lưu trữ các hiện vật rất chu đáo. Thời mới chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc tháng 8/1965, tôi lúc đó chưa đủ 15 tuổi được Cha mẹ tôi gửi đi cùng Viện Nghiên cứu Văn học Việt Nam có trụ sở tại 20 phố Lý Thái Tổ, Hà nội đi sơ tán tại nhà Cụ Hợp, thôn Mã Cháy, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Hà Bắc (cũ) sau này là tỉnh Bắc Giang có được giao một vali to của Liên Xô mầu ghi sẫm chứa đầy các di vật, ảnh, bản thảo, kính cũ,…đem phơi trong bóng râm ngày  khô nắng. Tôi nhớ có hai hiện vật rất quý là bộ quần áo nâu bé hơn 1 tuổi của Anh Vũ Hồng Côn và một ảnh trong số 86 ảnh cũ chụp in đen trắng rất rõ nét cảnh chào Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khai mạc Triển lãm Văn hóa toàn quốc có ba người trên hè phố nhà Khai trí Tiến Đức số 12 phố Lê Thái Tổ gồm: Chủ Tịch Hồ Chí Minh đứng thẳng, mặc áo kaki đại cán, tay trái cầm mũ, tay phải chống batoong (Gậy), cha tôi Nhà văn Vũ Ngọc Phan mặc comlex trắng giơ nắm tay ngang thái dương bên phải, Cố vấn Vĩnh Thụy ( Cựu Hoàng Bảo Đại) mặc áo somi cộc tay giơ nắm tay phải ngang thái dương. Bức ảnh sau khi Cha tôi qua đời, anh Vũ Tuyên Hoàng (Giáo sư, Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng) có cầm về nhà riêng ở khu Thành ủy Hà nội ngõ, phố       Hà nội, rồi cho một phóng viên mượn không trả lại. Bộ quần áo nâu bé của Anh Vũ Hồng Côn  khi mới gần 2 tuổi trong di vật Cha Mẹ tạm để nhà anh Vũ Triệu Mân (Giáo sư Bảo vệ thực vật Đại học Nông nghiệp 1) thì không thấy đâu nữa.

 Ảnh chụp tại số nhà 12 phố Lê Thái Tổ, Hà Nội vào tháng 10/ 1946 gọi là Nhà Khai Trí Tiến Đức ngày 24/11/1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Đây là sự kiện trọng đại quy tụ hơn 200 nhà hoạt động văn hóa. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý lịch sử: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Tại thời điểm Hội nghị Văn hóa Toàn quốc có triển lãm phục vụ Hội nghị Văn Hóa Toàn quốc do Chủ Tịch Hồ Chí Minh chủ trì.

Chú thích ảnh: Hàng đầu tiên chính giữa là Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Người đánh dấu số 1 là Nhà văn Nguyễn Đình Thi, Người số 2 là Phạm văn Đồng, Người số 3 là Nhà văn Vũ Ngọc Phan lúc đó là Chủ Tịch Ủy Ban Vận động Văn hóa Toàn quốc, Người số 4 là Bác sỹ Trần Duy Hưng, Người số 5 là Cố vấn Chính Phủ Vĩnh Thụy (Bảo Đại). Có một chi tiết vào năm 1965, khi Nhà văn Vũ Ngọc Phan đã nói tên từng người trong ảnh thì Người đứng sát phía sau bên trái Chủ Tịch Hồ Chí Minh (Nhìn từ trong ra) là Bác sỹ Trần Đình Chi (Không nhớ thật chính xác tên, họ) tóc trước trán rẽ ngôi giữa, một Trí thức ủng hộ Việt Minh rất nhiệt thành, sau bị Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) của Vũ Hồng Khanh bắt cóc, thủ tiêu bằng cách cho vào bao tải thả trôi sông Hồng ( Ảnh hiện lưu trữ Gia đình Nhà văn Vũ Ngọc Phan)

 

Từ trái sang phải: Lê văn Hiến nguyên Bộ Trường Bộ Tài chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Hồ Chủ Tịch, bác sỹ Trần Đình Chi (họ tên không thật chính xác), Nhà văn Hoài Thanh và  các Nhà Trí thức đương thời. Ảnh chụp tháng 10/1946 tại Nhà Khai trí Tiến Đức số 12 phố Lê Thái Tổ hiện vẫn còn tại ngã ba phố Lê Thái Tổ và phố Hàng Trống, Hà nội

 

 Ảnh Đại gia đình Nhà văn Vũ Ngọc Phan chụp tháng 11/1950

Từ trái sang phải: Phan Vịnh anh ruột Phan Diễn, Vũ Huyền Giao mặc áo trấn thủ sau là Chuyên gia Cơ khí Bộ Cơ khí luyện kim,Vũ Hoài Tuân sau là Chuyên gia Vũ khí Nguyên tử đàu tiên của Quân đội Nhân dân Viêt Nam, Vũ Tuyên Hoàng sau là Giáo sư Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng, Phan Diễn sau là Thường trực Bộ Chính trị Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Sơn (Vũ Nguyên Bác,Lý Anh Tự, Hồng Thủy) đương nhiệm Tư lệnh Quân khu IV sau là Lưỡng Quốc Tướng quân, Ông ngoại Lê Dư (Sở Cuồng) bế con gái Nguyễn Sơn là Nguyễn Thanh Hà , Cậu Lê Hoan, Dược sỹ Cao cấp em trai Nhà thơ Lê Hằng Phương, Hoàng văn Trí chồng bà Lê Hằng Phấn, bên cạnh là bà Lê Hằng Phấn chị cả Nhà thơ Lê Hằng Phương, thấp bên dưới là Vũ Triệu Mân sau là Giáo sư, Tiến sỹ Bảo vệ Thực vật, Dì Lê Hằng Huân vợ Tướng Nguyễn Sơn,Vũ Phi Hồng sau là Phó Giáo sư Triết học, Dì Lê Hằng Trang, đứng trước là Vũ Hồng Côn,Vũ Giáng Hương con gái cả Nhà văn Vũ Ngọc Phan và Nhà thơ Lê Hằng Phương (Hằng Phương Nữ sỹ) sau là Giáo sư, Chủ Tịch Liên hiệp Hội Văn Học Nghệ thuật Việt Nam, cuối ảnh là Nhà thơ Lê Hằng Phương bế Vũ Ngọc Phương được gần 2 tháng. Có một con chó Lài (chó trên Dân tộc Mường) của Tướng Nguyễn Sơn nuôi.

 Tôi gặp Nguyễn thị Tính lần đầu tiên vào lúc hơn 14g một ngày đầu tháng 09/1969 khi đến nhà đưa giấy báo nhập học Khoa Kiến Trúc K69 trường Đại Học Xây dựng. Bố đẻ là Cụ Nguyễn văn Hương, công nhân tạp vụ ở Viện Vệ sinh Dịch tễ, bà mẹ là Nguyễn thị Hải không được học, không biết chữ bán dưa cà trước cổng nhà 12A Nguyễn Cao, lúc đó là Chợ Nguyễn Cao. Đường phố Hà nội lúc bấy giờ chỉ có các phố chính trải nhựa đường bằng cách đun sôi những thùng phi đựng nhựa đường rồi đổ ra để láng, trời nắng nhựa chẩy ra lép nhép bánh xe và dép người đi bộ qua đường. Các phố nhỏ gần hết là đường trải đá lổn nhổn, ngõ là đất nện. Phố Nguyễn Cao bấy giờ cũng như vậy. Nhà 12A Nguyễn Cao là một thửa đất vườn khoảng 240m2 cuối khu đất có một dẫy nhà gạch 3 gian không trát , mỗi gian 15m2, trên có mái bằng bê tong cốt thép đã rỉ rơi cả bê tong. Mặt nhà chính tây rất nóng mùa hè, rất rét mùa đông, hoang tàn, có một cây dừa sát mép đường, hàng rào là những thanh tre, gỗ nhặt về đóng siêu vẹo trên có cây Mùng Tơi leo sơ sác. Chủ nhà chia đôi thửa đất, nhà Tính mua được 120m2 đất trên một gian nhà gạch 10m2 rồi lợp nới thêm bên ngoài 10m2 nữa, trên lối vào nhà chính lát khập khiễng mấy viên gạch vỡ, trên lối đi dưới một cây táo ta quả nhỏ, rất chua có một chum nước to mầu da lươn sẫm. Sau Bố Tính nhận gia công Mỳ sợi cùng người em trai ruột gọi là Chú Ba, người vợ là Thím Ba bán hàng khô ngoài chợ Nguyễn Cao. Ông bà Ba cùng bố mẹ Tính góp tiền dựng một nhà 1 tầng 3 gian, mỗi gian rộng khoảng 9m2, mái lợp ngói xi măng cao chừng 3m đến thượng lương ( Nóc nhà). Thím Ba là một người to béo, tầm thước rất đôn hậu, sởi lởi. Hai ông bà Ba không có con nên nhận Tính làm con nuôi.

 Lúc đầu tôi chỉ đèo xe đạp đưa Tính lên Chèm, qua đò sông Hồng sang bên kia sông chừng 12Km là đến nơi sơ tán của trường Đại Học Xây dựng. Sau Tết Nguyên Đán 1970, khoa Kiến trúc tách khỏi Đại Học Xây dựng thành lập Đại Học Kiến trúc do Kiến Trúc Sư Vương Quốc Mỹ ở Viện Thiết kế Đô  thị Nông thôn, Bộ Xây Dựng về làm Hiệu trưởng. Trường Đại học Kiến trúc được chuyển về sử dụng cơ sở trường trung cấp Kiến trúc Hà Đông tại cây số 10 cạnh A500 bây giờ. Lúc đầu cũng chỉ là đưa đón xe đạp đi về khi đến trường và về nhà. Hay đi cùng nên học sinh Đại Học Kiến trúc tập trung nói xấu, phá. Cuối năm 1971, trường đi sơ tán, đi lao động đắp đê, đào hồ Giảng Võ,…mỗi lớp đi một nơi, vẫn chỉ như bạn, khi trở về cả hai đứa lần đầu đau mắt đỏ cuối năm 1969. Cuối năm 1972 về Hà Nội thực tập đúng vào 12 ngày đêm B52 ném bom Hà Nội. Đưa Tính và bà Mẹ chạy quanh, ông bố Tính tránh B52 về quê ở Ngọc Hồi.

 Lần đầu cầm tay nhau tôi sợ Tính ngã là một ngày mưa dông rất to đèo xe đạp Tính đi về trên đê sông Hồng từ Chèm về Nguyễn Cao. Năm 1973 tốt nghiệp ra trường Tính được phân công về dậy ở Trung cấp Kiến Trúc Hà Đông, tôi về làm ở Bộ Xây Dựng. Tháng 10/1975 hai nhà tổ chức cưới tại Nhà Tính, bên nhà trai có Cha và anh Tuân, nhà gái độ hơn 10 người. Đám cưới có nước trà, kẹo lạc. Sau đấy đón dâu đi xe đạp tôi đón Tính về nhà Cha Mẹ ở căn hộ gọi là phòng P21/E1 có diện tích 24m2 Nhà lắp ghép Văn Chương, Hà Nội. Cha Mẹ rất khái tính nên mua chứ không xin tiêu chuẩn ( Cha lúc đó xếp hạng Chuyên Viên 7 -  tương đương Thứ trưởng, sau lên chuyên viên 9 tương đương Bộ Trưởng), Cha Mẹ bán cái xe đạp Mercerduyara, tiền nhuận bút tiết kiệm và 1,000m2 đất cũ của Ông Nội Vũ Kỳ Sâm để lại ở Thái Hà trả được 1,100. đồng lúc đó. Còn 2,200. đồng sau tôi thiết kế ngoài giờ cùng Anh Diêu Quang Tuấn, Hoa kiều, Kiến trúc sư tốt nghiệp từ năm 1961 có tiền trả nốt vào đầu năm 1982. Hồi mới cưới, Tính phải ở tập thể Trường Trung cấp Kiến trúc. Nhà tập thể học sinh không đủ chỗ nên Tính và 5 giáo viên nữ kê gường sát nhau ở trong khu vệ sinh tầng 1, các ngăn vệ sinh chia làm 6 để hòm đồ tư trang và thay quần áo. Sau Tính có mang hơn 4 tháng mới biết. Căn hộ P21/E1 Văn Chương chia làm 2 phòng Cha Mẹ ở phòng trong kê một gường, một bàn làm việc, một tủ gỗ dán đựng quần áo và một tủ sách. Nhà ngoài có một gường rộng 90cm và 1 gường 1,6m để 4 anh em Hoàng, Giao, Mân và tôi khi về nhà Cha Mẹ có chỗ ngủ. Tối mang xe đạp vào xếp giữa lối đi trong phòng ngoài. Khi Tính có mang 8 tháng phải nghỉ thì chị Vũ Giáng Hương và anh Lê Cao Đài cho VP Tính về ở phòng 8m2 trong căn hộ tầng 3 có diện tích 27m2 đầu hồi Nhà lắp ghép Khương Thượng trông ra sông Tô Lịch. Sáng sớm tôi dậy nấu cơm ủ gamen cho Tính ăn trưa rồi đi làm Bộ Xây Dựng chiều tối về. Sau anh Lê Cao Đài làm Viện trưởng Quân Y 103 thì Anh vào ở trong Viện Hà Đông. Chị Giáng Hương về ở nhà bác gái Họa sỹ Nguyễn Tỵ trường Cao đẳng Mỹ thuật phố Yết Kiêu.

 Trước khi Tính sinh độ gần 1 tháng thì bên Nhà bố mẹ Tính thu xếp một gian trái bếp 9m2 cách một khoảng đất nhỏ rộng chừng 2m trông ra đường phố Nguyễn Cao để vợ chồng Phương Tính cùng con nhỏ Vũ Trường Khanh về ở. Ngăn với gian bếp và gia công mỳ sợi là một tấm liếp dán báo lên cho đỡ khói. Nền gian nhà tôi cùng bà mẹ Tính mua xi măng, cát và bột mầu đỏ tự làm. Tính sinh Vũ Trường Khanh vào gần sáng, Cha Mẹ đón hai mẹ con về P21/E1 Văn chương ở hơn 1 tháng thì về gian bếp đã ngăn ở 12A Nguyễn Cao. Khi hai mẹ con Tính còn ở Văn Chương, tôi mua được cót ép treo trên gian bếp đã ngăn làm trần cách nhiệt.

 Đồ dạc, chị Vũ Phi Hồng cho một gường gỗ tạp cũ sơn mầu ghi rộng 1,6m, mua khi cưới anh Võ Tề dậy ở Nam Hà khoảng năm 1961. Chị Vũ Giáng Hương mua cho cái chạn nhỏ, có ít sơn vàng kem sơn lên. Tôi nhặt mua gỗ củi thuê đóng 1 tủ thấp lùn để quần áo và đồ vặt. Gường rộng 1,6m chị Vũ Phi Hồng cho kê sát tường trong cho Tính và Tu Khanh, có thêm một gường cán bộ có thùng dưới đầu gường Cha Mẹ tôi cho có bề ngang rộng 70cm có kê sát cửa sổ. Những ngày nóng phải đổ nước xuống sàn buổi chiều cho tối mát. Sữa pha cho Tu Khanh phải ngâm cách thủy dưới gầm gường, tôi thường di xe đạp vào tận chợ Hà Đông bấy giờ lợp tấm phibro xi mang để  xếp hàng mua 2 hộp sữa Ông Thọ. Có lần đã sang Thu mát hơn, chiều muộn tôi ra chợ Nguyễn Cao trước cổng nhà mua rau về thấy Tu Khanh lúc ấy chỉ hơn 3 tuổi đang cúi đầu vốc nước gội đầu từ  nước vo gạo rửa bát chậu sành vỡ dưới gốc cây táo.

 Đầu năm 1978, Tính lại có mang, tôi thường xuyên đi công tác vùng phía Bắc, có lần đi dài ngày về đến thị xã Bắc Giang lỡ xe khách thế là đi bộ về nhà. Đi mãi đến gần Từ Sơn, Bắc Ninh mới có xe khách. Về đến nhà chạng vạng tối thấy Tính ngồi trên gường trong bế một thằng bé gầy nằm vắt trên đùi, tôi hỏi:

-“ Tu Khanh đâu?”.

Tính bảo:

-“ Đây chứ còn đâu”.

Kịp vứt balo cóc xuống nền nhà chạy lại bế lên, Tu Khanh đang hâm hấp sốt, gầy xanh. Con còn nhỏ lại không biết có thuốc gì, thế là tôi chạy ra đường đi chăm chú tìm để nhổ cây Cỏ Nhọ Nồi về rửa sạch, giã nát lọc nước cho Tu Khanh uống giảm sốt. Khi Tính múc từng thìa cho Tu Khanh uống cứ vằng ra không chịu uống nên thuốc dây quanh mồm xanh lè, … Sau mỗi lần Tu Khanh ốm sốt cho uống Cỏ Nhọ Nồi quanh miệng Khanh toe toét nước cây Nhọ Nồi đen thì Tính lại bế con lên nựng:

-“ Nào, chịu khó bôi râu cho khỏi sốt nhé”.

Có lần chiều tối, Bà Ngoại mải bán dưa cà,Tu Khanh chạy chơi đâu tìm mãi quanh nhà không thấy, vào các ngõ bên cũng không thấy, đến khi chạy ra ngoài đường thấy Tu Khanh bé, gầy ngồi thu lu trên bậc tam cấp tầng 1 cửa hàng bách hóa phố Lê Quý Đôn xem oto chăm chú,… tôi thương quá chạy ra bế Tu Khanh lên ôm chặt vào người rồi chạy về. Tu Khanh mắt to tròn sáng trong vẫn ngoái đầu lại giơ tay bé tý chỉ ra đường nói:

-“ Oto, oto,…”.

 Tháng 9/1978, trời nóng như dội lửa, hầm hập. Một chiều đi làm về chợt thấy mệt rồi sốt rất nhanh. Anh Vũ Huyền Giao ở tập thể Nhà máy Trần Hưng Đạo cuối dốc Thọ Lão sang chơi thấy thế đạp xe lên nhà anh Lê Đăng Hà – Bác sỹ Chủ nhiệm Khoa Lây (sau này thành Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, Bạch Mai) xuống ngay khám rồi bảo:

-“ Thằng này bị sốt Xuất Huyết, vào cấp cứu ngay đi. Để anh viết cái giấy”.

Gọi xe xích lo đưa vào Khoa Lây. Lần đầu tiên bệnh Sốt xuất huyết từ miền Nam lan ra, ai bị đều rất nặng. Cùng cấp cứu cùng tôi có 4 người khác nhưng cả 4 người này đều xuất huyết não, tim, phổi,…không qua khỏi. Lúc đó cũng chưa có thuốc gì, chỉ truyền huyết thanh và uống nước chanh. Anh Lê Đăng Hà nói:

-“ Em cố uống nhiều nước cho loãng độc tố”.

Tôi sốt mê man không biết gì, trong bệnh viện lo không qua được viết sẵn tên mảnh giấy xanh

“ Giấy nhập Nhà Đại Thể”- Là Nhà xác bệnh viện ấy, để giao cho ca trực đêm. Sáng hôm sau, tự nhiên VP tỉnh lại, thấy đau bụng mới gọi đưa cái bô rồi nằm nôn gần nửa bô nước và máu tươi, cả Khoa chạy đến. Tôi thấy anh Vũ Hoài Tuân cũng đứng đấy nhìn. Lúc sau Tính chen các Anh đang đứng vây quanh gường. Tính vào, bụng to vượt mặt. Tất cả im lặng.

Giây lát tự nhiên cầm được, không nôn nữa, tôi lại mê đi. Đấy là ca xuất huyết nội tạng duy nhất không chết lần ấy tại Khoa Lây Bệnh viện Bạch Mai – Gồm rất nhiều dẫy nhà một tầng mái lợp ngói, đặt cách nhau do Pháp xây khi làm Bệnh viện Bạch Mai. Hơn 1 tuần sau, anh Lê Đăng Hà cho ra viện. Một ngày nắng hầm hập, Tính vẫn đạp xe vào đỡ tôi lên xích lo, người rét lạnh đến phải đắp chăn dạ cũ mầu đỏ. Về trước cổng nhà 12A, Tính phải đỡ mới đi được. Tôi cố gượng đi vào nhà rồi nằm vật trên gường con sát cửa sổ nhỏ trong nhà. Tu Khanh chạy chơi ở đâu về thấy bố, Tu Khanh loay hoay trèo lên gường Tính phải đỡ bò vào nằm áp sát vào Bố. Từ đấy cho đến khi đã lớn hẳn, Tu Khanh ngủ với Bố. Tôi bị sốt xuất huyết nặng đến mức không đi lại được gần 1 tháng. Tính bán bớt gạo tiêu chuẩn trong sổ để có thêm tiền ăn tằn tiện. Nhìn Tính sắp đến này sinh mà gầy ngẳng, cổ, cánh tay lộ hết gân xanh (Tĩnh mạch), tôi phải bảo Tính: -“ Vẫn không ăn được, mua khoai sọ về luộc  ăn là được rồi. Cố tự chăm cho Tính và các con”. 

Thời gian này, tôi ở nhà trông Tu Khanh và vẽ được 02 tranh sơn dầu đẹp. Tháng 10/1978 Tính vào Viện C phụ sản Trung ương sinh thằng Con trai tròn ngắn, tóc dầy. Ông Nội Vũ Ngọc Phan đặt tên là Vũ Thượng Văn. Nó sinh ra khỏe mạnh, chăm ăn, có lần xúc cho ăn chậm nó cắn in 2 cái răng cửa bé tý vào tay Mẹ Tính. Lúc chơi, Văn hay chụm môi lại rẩu mồm ra như Con Lợn con nên gọi là ÉC. Văn nói ngọng lắm, chỉ duy nhất có Tính nghe hiểu phần nào dịch lại. Một lần Tính đang làm cơm trong bếp chật hẹp Phòng 21 nhà E1 Văn Chương, Văn lũn cũn đi vào hai tay đút trong quần yếm, Tính hỏi:

-“ Có gì trong túi Éc thế?”

Văn bảo: “ Óp ỡ”  (Tóp mỡ).

Lúc bấy giờ Văn mới hơn 3 tuổi, đi làm nhốt Văn ở nhà, cứ cuối giờ chiều Văn Éc ngồi thu lu trên lưới sắt làm trên ban công nhà ngóng bố mẹ về.

 Có lần mở cửa phòng không thấy Văn chạy ra đón, vào nhà thấy Văn vẫn ngoảnh mặt đi, ôm bế lên mới thấy con ngã sưng vù mắt bên trái. Thương quá! Khi trên dưới 10 tuổi, Văn xinh như một Con Bupbe Liên Xô.

 Một buổi chiều muộn, tôi từ Bộ Xây Dựng về nhà, phố Nguyễn Cao là một chợ lụp xụp những dẫy lều lợp chằng đụp bằng đủ mọi thứ giấy dầu, chiếu rách, nilon rách. Cổng nhà 12A Nguyễn Cao xiêu vẹo vì chằng buộc đủ mọi thứ dây, Văn mặc quần đùi, áo may ô, người tròn và trắng gần 2 tuổi, mới đi chập chững, đang xòe tay bé tí ra xin mấy người phụ nữ ăn ốc mút. Lúc đó kinh tế xã hội rất nghèo, gần như chỉ đủ ăn không chết đói, ốc mút là loại ốc nhỏ, nhọn chỉ bằng đầu đũa, 5 xu được một gạt bát đàn (Bát ăn cơm nhỏ, thô chưa tráng men). Tôi bế xốc Văn lên, một tay dắt xe đạp Xputnhich sơn xanh Anh Vũ Tuyên Hoàng vào nhà. Ôm chặt Văn trong lòng mà thương trong lòng đau buốt. Từ đó tôi quyết chí làm bất cứ việc gì bằng trí lực để có tiền cho Tính và Hai đứa con Khanh Văn. Hồi đó gia đình tôi đã có bốn nhân khẩu nên sổ gạo được cấp thêm, Tính và tôi mỗi người được 13,5kg một tháng, bán bớt đi một xuất gạo. Ít lâu sau tôi làm lần đầu tiên có được tiền, tôi mua máy khâu Mitshubishi đầu bạc (Chỗ đặt chỉ mạ kền trắng), tất bàn và chân máy sơn mầu nâu già của một người chuyên buôn máy khâu từ trong nam ra, nhà ở bên phố Nguyễn Huy Tự về cho Tính may vá, sửa quần áo cho hai con, còn nhận gia công thêm tiền chi tiêu

Thời kỳ xóa bỏ chế độ Kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp tiến sang Nền Kinh tế Thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa được gọi là Thời kỳ Đổi Mới - không thể không nhắc đến một trong những Chuyên gia chủ chốt – Cố vấn Chính trị Kinh tế Cấp cao của Đảng – Nhà nước Hà Nghiệp.Tôi được gặp Anh Hà Nghiệp vào đầu năm 1980, Anh Hà Nghiệp vốn là bạn học trường Phổ thông Lam Sơn, Thanh Hóa từ những năm 1947 – 1952 của hai người Anh tôi là Vũ Tuyên Hoàng – sau này là Giáo sư, Viện sỹ, Phó Chủ Tịch Viện Hàn lâm Quốc tế, Anh hùng Lao đông thời kỳ Đổi Mới và Anh Vũ Huyền Giao – Chuyên gia Cơ khí Bộ Cơ khí Luyện kim. Anh Hà Nghiệp khi mới về nước làm ở Bộ Cơ khí Luyện Kim sau đổi là Bộ Công nghiệp Nặng đã định nghĩa rất nổi tiếng lúc đó:

-“ Không làm bằng Tay mà làm bằng Máy gọi là Cơ khí”.

Sau khi Anh Phan Diễn là Trợ lý của bác Trường Chinh được cho đi học chính trị Cấp cao ở Liên Xô thì Anh Hà Nghiệp được Trung ương giới thiệu làm Trợ lý cho Tổng Bí thư Trường Chinh năm 1985. Cuối tháng 7/1985, Anh Hà Nghiệp được Tổng Bí thư Trường Chính chỉ định đi cùng với Tổng Bí thư công tác Liên Xô hơn 15 ngày. Sau mấy ngày đã trở về Hà nội, Anh Hà Nghiệp gọi điện thoại cho tôi:

- “ Cậu không bận thì Chủ nhật đến  nhà Anh”.

Tôi ghi lịch công tác, cuối chiều Chủ Nhật ngày 04/8/1985 tôi đến khu tập thể lắp ghép tấm lớn 2 tầng Trương Định. Nhà Anh Hà Nghiệp mới được phân phối một căn thứ 2 đầu Khu A. Anh Hà Nghiệp ra đón tôi vào nhà trải chiếu ngồi dưới nền tầng 1 rồi đi vào phòng sau cầm một hộp trứng cá ra, bảo:

 - “ Đây là Gorbachyov (Mikhail Sergeyevich Gorbachyov) tặng Cụ. Cụ (Trường Chinh) cho lại mình. Giờ thì mở hai anh em ăn rồi bàn chuyện. Tuyết (Vợ Anh Hà Nghiệp) nó không ăn của lạ thế này”.

Lần đầu tiên, cũng là duy nhất cho đến tận bây giờ, tôi được ăn trứng cá Hồi đen thấy rất thơm ngon, … Anh Hà Nghiệp kể lại vắn tắt câu chuyện về Tư tưởng Đổi Mới và báo cáo chuần bị của Anh Hà Nghiệp cho Bác Trường Chinh với Gorbachov. Sau khi thông báo, Ông ta nghe chăm chú nhưng không nói gì. Đến ngày kết thúc hội đàm, Gorbachov bắt tay Cụ Trường Chính nói:

- “ Chúc Đồng chí thành công!”.

Hai anh em nói chuyện đến gần 9g (21g) tối hôm đó tôi mới ra về.

Anh Hà Nghiệp nói với tôi nhiều về Cải cách để Đổi Mới. Anh là người suy nghĩ thâm trầm, ghét phô trương, nhưng khi phát biểu rất thẳng và sâu sắc, vì thế nhiều người ngại Anh.Trong những lần nói chuyện, Anh Hà Nghiệp nhận xét:

- “ Người Việt Nam Ta có giặc Ngoại xâm thì đánh giặc Ngoại xâm, không có giặc Ngoại xâm thì đánh lẫn nhau”.

Mỗi lần nghĩ câu nói của Anh tôi không khỏi tủm tỉm cười, nhất là khi đi ngoài đời ở nông thôn, ở thành thị trong cả nước, đi các chợ vùng cao, các chợ ở đô thị lớn như Hà Nội, Hải phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Cần thơ,… Đôi lúc thấy người ta cãi chửi nhau, thậm chí đánh nhau chỉ vì hai hàng bán gần nhau,…Mâu thuẫn ở nông thôn giữa các dòng họ, giữa các làng, xã rất khó giải quyết. Nhưng cũng những người Dân ấy, thời chiến tranh giữ Nước, họ đã mang sập gụ, câu đối,… Có khi là cả tủ thờ, bàn thờ ra lát trên đường lầy lội cho xe bộ đội ra mặt trận, đúng là trong chiến tranh Nhân dân giữ Nước !

 Cùng về tăng cường cho bộ phận Thư ký Tổng Bí thư Trường Chinh về  với Anh Hà Nghiệp có Anh Nguyễn văn Thanh Thư ký Bảo Mật. Sau anh Nguyễn văn Thanh được bổ sung thêm một chuyên gia là Giáo sư Trần Nhâm. Cả ba anh ngồi làm việc trong một nhà một tầng, mái ngói có trần vôi rơm đỡ nóng ở sau nhà riêng của Tổng Bí thư Trường Chinh bên số lẻ đường

 

 Ảnh năm 1992 tại phòng Khách nhà 152 Triệu Việt Vương, Hà Nội (Nhà thuộc sở hữu Vũ Ngọc Phương và vợ Nguyễn thị Tính). Từ trái sang phải: Nguyễn thị Tính, Vũ Ngọc Phương, Anh Hà Nghiệp, Giáo sư Tiến sỹ Lê văn Viện, Chuyên gia Cơ khí Bộ Cơ khí Luyện kim Vũ Huyền Giao – Anh ruột Vũ Ngọc Phương.

 

.

Ảnh năm 1992 tại sân vường nhà 152 Triệu Việt Vương, Hà Nội (Nhà thuộc sở hữu Vũ Ngọc Phương và vợ Nguyễn thị Tính). Từ trái sang phải: Giáo sư Tiến sỹ Lê văn Viện, Nguyễn thị Tính, , Anh Hà Nghiệp, , Chuyên gia Cơ khí Bộ Cơ khí Luyện kim Vũ Huyền Giao – Anh ruột Vũ Ngọc Phương.

 Nguyễn Cảnh Chân, Ba đình, Hà Nội. Kế bên chung tường mặt đường Nguyễn Cảnh Chân có nhà riêng đồng chí Hoàng Quốc Việt, sau này ở góc đường Nguyễn Cảnh Chân và Phan đình Phùng là nhà riêng của Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh. Đường phố Nguyễn Cảnh Chân duy nhất có một ngõ liền kề tường ngăn nhà Bác Trường Chính đi thẳng vào cuối ngõ là cổng sau hai cánh sơn xanh lá cây già là nhà Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhà này mặt trước là số 6 Hoàng Diệu, Ba đình, Hà nội. Khi sinh thời ông Lê Duẩn gần như không đi theo cổng trước bao giờ mà thường đi qua ngõ Nguyễn Cảnh Chân. Bên phải cuối ngõ Nguyễn Cảnh Chân sát tường nhà ông Lê Duẩn là khu nhà 3 tầng trụ sở của Ban Tài chính quản trị Trung ương. Vào đầu ngõ Nguyễn Cảnh Chân bên tay trái tường nhà Bác Trường Chinh có một cổng ngách sơn xanh chỉ vừa lọt xe máy một người dắt là vào nhà Trợ lý, Thư ký ông Trường Chính. Nhà mái ngói có 3 gian chia ra: - Gian đầu hồi là phòng Trợ lý Hà Nghiệp, thứ hai là Giáo sư Trần Nhâm, thứ ba là phòng thư ký Bảo mật Nguyễn văn Thanh. Trước cửa nhà là một dàn nho cằn cỗi trên môt ô đất vườn trơ trụi. Sau phòng Thư ký Bảo mật cách độ 3m có một cây trứng gà cành lá sum suê rồi đến một nhà một tầng cũng mái ngói  kéo dài là nơi ở của Đội Cảnh vệ của Tổng Bí thư Trường Chinh. Cuối ngõ Nguyễn Cảnh Chân phía bên trái cùng dẫy nhà Ông Trường Chinh có một lối đi nhỏ qua một nhà trẻ số 4 mặt đường Hoàng Diệu. Các đường này đều canh phòng nghiêm ngặt.

 Lúc đó tôi vừa sang tuổi 30 khi xét năng lực được Chú Tố Hữu, Chú Lê Quang Đạo giới thiệu tôi tham gia công tác Trung ương. Sau tôi được đi đào tạo ở trường Hoàng Hữu Nam và FSB Kazvenagh Lenningrad (Ленинград - nay là Saint Petersburg) của KGB. Về quản lý Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng tại Thụy sỹ do Gs Trần văn Thìn Việt Kiều Pháp (sau là Đại diện EU tại Liên Hiệp quốc) trực tiếp giảng dậy về Tài chính, Ngân hàng và quản lý Vàng. Về phía Trung ương Việt Nam trực tiếp truyền đạt chỉ thị là ông Phan Triêm Phó Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương, lúc đó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương là ông Lê Đức Thọ. Khi trở về được giao tham gia công tác xây dựng địa phương tại Ban xây dựng huyện Trung ương do Chú Tố Hữu - Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính Phủ làm Trưởng Ban.

 

 Bút tích Chú Tố Hữu ghi tặng Vũ Ngọc Phương  ngày 04/10/1984

 Ngày 4/10 /1984 tại Hội nghị Tổng kết Xây dựng Huyện Trung ương có Tổng Bí thư Lê Duẩn dự, tôi được tuyên dương cùng nhiều người khác. Riêng tôi được Chú Tố Hữu đặc cách ghi tặng lên sách Báo cáo của Ban Xây dựng huyện Trung ương vì công tác xây dựng Huyện là cốt tử trong Chiến tranh Nhân Dân duy nhất chỉ có ở Việt Nam. Tại Hội nghị Ban Xây dựng Huyện Trung ương, tôi có vinh dự được ngồi bên Tổng Bí thư Lê Duẩn, Ông hỏi thăm Cha Mẹ tôi - Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Nhà thơ Lê Hằng Phương và bảo:

- “ Mẹ cháu ngày xưa đẹp, nấu ăn ngon có tiếng”, rồi Ông cười hiền hậu.

Mẹ tôi – Nhà thơ Lê Hằng Phương (Đường Hằng Phương Nữ sỹ) thường hay bảo:

- “ Ông Lê Duẩn với Mẹ sinh cùng năm 1908”.

Cha Mẹ tôi nói: - Cách mạng tháng 8/1945 thành công, ông Lê Duẩn và Lê văn Lương ( Tên thật là Nguyễn Công Miều - em ruột Nhà văn Nguyễn Công Hoan) - bạn thân nhất của Cha tôi – Nhà văn Vũ Ngọc Phan. Nhà văn Nguyễn Công Hoan có hai người em ruột liền kề là Nguyễn Công Hỉ, Nguyễn Công Mỹ mất sớm còn người em út là Nguyễn Công Miều có bí danh là Lê Văn Lương sau này là một trong Nhà Lãnh đạo hàng đầu của Cách mạng Việt Nam. Sau khi ra tù Côn Đảo, ông Lê Duẩn và Lê văn Lương đã về ở nhà Cha Mẹ tôi một thời gian. Ảnh chụp hai ông gầy gò mặc quần đùi, áo chẽn cùng gia đỉnh Cha – Mẹ tôi.

Cha tôi cười bảo:

-“ Cả hai người bị ghẻ lở toàn thân,…”.

 Anh Vũ Tuyên Hoàng – Giáo sư, Viện sỹ Quốc tế được là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng rất thân với Chú Tố Hữu. Một lần cuối Thu năm 1987 có về nói lại với tôi:

-“ Chú Tố Hữu bảo thằng Vũ Ngọc Phương rất có tài, nhiều người muốn đánh chết nó nhưng nó không có gì sai để mà đánh được!”.

Sau này không biết sao ý kiến nhận xét này loang truyền trong giới lãnh đạo, quản lý và trí thức đương thời. Vợ Kiến trúc sư Nguyễn Bá Đang học khóa 1961 là Bà  Vinh khi đương nhiệm Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà nội đã nhắc lại nguyên văn nhận xét của Chú Tố Hữu mấy lần trong hội nghị để mọi người cùng biết về một sinh viên cũ của trường.

 Nhớ một buổi trưa hè năm 1983, tôi được gọi đến gặp ông Ba Duẩn tại tầng 2 nhà, mặt chính nhà ông là số 6 Hoàng Diệu, Hà Nội. Nay phòng này giữ nguyên bàn họp, ghế và bộ salon tiếp khách thu của Tây hồi giải phóng Hà nội 1954. Nay cuối phòng có thêm là bàn thờ ông Lê Duẩn nhìn hướng ra đường Hoàng Diệu. Trưa nắng nóng nên Ông giữ lại ăn cơm với Ông, bữa trưa có cơm trắng, cá kho và canh rau muống. Đang ăn thì Anh Phan Đông Ngạc (Anh bên họ Mẹ tôi) Trợ lý của ông vào báo cáo Khẩn, nghe xong Ông Ba buông đũa nói:

-“ Tội nghiệp thằng Tr, quá”.

Sau này trong số các anh chị con Bác Ba (Lê Duẩn) tôi thân nhất là Anh Hồ Ngọc Đại con rể Ông Lê Duẩn. Trong các kỷ niệm về Giáo sư Hồ Ngọc Đại tôi nhớ nhiều đến ngày 02/12/2021, tôi và Nguyễn Đình Chiến (Trung tướng, Giáo sư – Tiến sỹ nay là Phó Chủ Tịch Trung ương Hội) lại thăm Giáo sư Hồ Ngọc Đại. Giáo sư tiếp chúng tôi tại phòng họp tầng 1 trong dinh thự xây từ thời Tây giờ là di tích nơi ở, làm việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn tại số 06 đường Hoàng Diệu, Ba đình, Hà Nội.Từ những thập niên 70 của thế kỷ XX, tôi lúc đó đang tuổi thanh niên cũng vài lần được vào đây. Bên Mẹ tôi quê ở Điện bàn, Quảng Nam có nhiều người trong họ tham gia cách mạng chống Pháp, chống Mỹ. Có một người tôi gọi là Anh Phan Đống Ngạc làm thư ký, sau là trợ lý 25 năm cho ông Ba Duẩn. Anh Phan Đống Ngạc có dự thảo bản Điếu văn ông Lê Duẩn đọc trong Lễ Tang Cụ Hồ.

 Trong các con và dâu, rể của ông Ba Duẩn có anh Hồ Ngọc Đại học ở Lomonoxop, Liên Xô về được ông Ba để ở tầng 2 (Biệt thự 6 Hoàng Diệu, Hà nội được xây dựng từ thời Tây có một tầng trệt và hai tầng lầu ), mặt trước dinh thự có cầu thang bộ lớn lên thẳng tầng 1, khi vào sảnh có thang gỗ to rộng lên tầng 3 là phòng làm việc Cơ mật của ông Ba Duẩn, liền bên phía bên tay phải là phòng ở của vợ chồng Hồ Ngọc Đại – Lê thị Hồng. Giáo sư Hồ Ngọc Đại vui kể lại kỷ niệm xưa: -“ Hồi ấy, ông Đào Duy Tùng Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa được ông Tố Hữu, sau cả ông Lê Đức Thọ gọi ( Gs Hồ Ngọc Đại) sang nhà riêng ở số 06 Nguyễn Cảnh Chân bảo tôi nhận làm Thứ trưởng, vào Trung ương khóa này (Khóa IV) rồi lên Bộ Trưởng Giáo dục”. Tôi nói: “ Làm Thứ trưởng, Bộ Trưởng có nhiều người giỏi hơn tôi để họ làm. Tôi xin được chuyên nghiên cứu, giảng dậy giáo dục thôi”.

Có một lần ngồi ăn cơm, Ba tôi (ông Ba Duẩn) nói: “ Con cần phấn đấu rèn luyện để sau có được sự nghiệp”, tôi hỏi lại: “Theo Ba thế nào là sự nghiệp?”. Ông Ba Duẩn im lặng. Lúc sau trước khi ăn cơm xong, ông bảo tôi: “ Giờ Ba Con ta ngồi đây, muốn đi ra khỏi đây thì đi chỗ nào?”, nói rồi ông chỉ tay ra cửa sổ và cửa đi. Tôi im lặng.

Giáo sư Hồ Ngọc Đại kể tiếp:

- “Khi ông Lê Đức Thọ bị bệnh nặng nằm trong Quân y Viện 108 có mấy lần nhắn tôi vào. Hồi đó tôi đang tuổi thanh niên, cứ cuối buổi chiều là đi đá bóng rồi uống bia thành ra không vào được. Một buổi tối có người tức tốc đến nói: “ Bác Sáu (Lê Đức Thọ) nói anh vào ngay gặp Bác”.Khi tôi vào, ông Lê Đức Thọ đã yếu lắm, ông nắm tay tôi nói:

- “ Bác cả đời làm tổ chức mà không bảo được cháu,…” rồi giây lát ông buông tay, đầu ông nghẹo sang một bên qua đời. Lúc đó khoảng 21g30 phút.

Im lặng hồi lâu,

Chợt Giáo sư Hồ Ngọc Đại tư lự:

-“ Hồi ấy mình cũng hay được theo Ba (Lê Duẩn) sang ăn cơm với Bác Hồ. Một lần Ba bảo tôi: “ Chiều nay ba con sang ăn cơm với Bác. Con nhớ chào Bác”. Ồ minh thật ngạc nhiên, lớn thế này mà vẫn còn phải dặn. Chiều tối hai Ba Con đi bộ sang bên nhà Bác Hồ. Bấy giờ chưa có nhà sàn, Bác Hồ ở trong nhà một tầng của ông thợ điện thời Tây trông coi Tòa Toàn quyền (sau là Chủ Tịch Phủ), gõ cửa, người mở là Bác Hồ mặc rất giản dị, chân vẫn đi dép lốp.  Ba tôi thưa: “ Dạ thưa Bác đây là thằng Đại”. Bác Hồ cười cầm tay: “ Đại chào Bác đi”. Sau khi ăn cơm, lần nào cũng chỉ có hai món là canh và cá kho hay thịt kho, tôi đứng dậy xin phép: “ Thưa Bác, cháu ăn xong rồi”. Bác Hồ cười bảo: “ Cháu đã xong đâu”. Tôi đứng phân vân: “ Dạ, cháu ăn no rồi”. Bác Hồ vẫy tay: “ Cháu ăn rồi, đứng dậy phải xếp lại ghế”. Sau mình mới thấy “ Các Cụ chu đáo, nghiêm và tỷ mỷ về cách cư xử”.

Giáo sư Hồ Ngọc Đại tại phòng họp di tích của TBT Lê Duẩn 01/12/2021

Từ trái sang phải: Vũ Ngọc Phương, GS Hồ Ngọc Đại, Trung tướng GS.TS Nguyễn Đình Chiến trước Ban thờ TBT Lê Duẩn tại phòng họp di tích 6 Hoàng Diệu, Hà nội.

 Chúng tôi được Giáo sư Hồ Ngọc Đại tiếp chuyện đã lâu, thấy đêm về khuya xin Giáo sư cho phép ghi âm, ghi hình, chụp ảnh lưu niệm để ra về. Tiễn chúng tôi qua bậc thang Đại sảnh, Giáo sư Hồ Ngọc Đại chợt bảo: -“ Hồi Ba nói làm gì, đi đâu rồi cũng phải về Hà Nội mới viết, mới nghĩ chin được. Hồi đầu mình không hiểu, sau này thì nghiệm ra. Ông nói Hà Nội tụ hội khí thiêng sông núi làm cho mình tĩnh tâm, sáng suốt”.

Gió lao xao luồn trên những tán cây cổ thụ trong vườn nhà 6 Hoàng Diệu rộng mênh mông yên bình và vắng lặng, thoảng đôi tiếng còi xe máy ngang đường. Chú chó giống Alatxka lẽo đẽo đi theo đánh hơi xem chừng khách có mang gì ở trong nhà. Giáo sư Hồ Ngọc Đại mở mạnh cánh cổng sắt sơn xanh đã hoen rỉ, Giáo sư Hồ Ngọc Đại khi đó đã hơn 85 tuổi nhưng trực tính, quắc thước, nhanh nhẹn và cực kỳ sáng suốt. Có lẽ Ông là một trong những Nhà Trí thức cuối cùng của Thời đại Hồ Chí Minh. Chúng tôi ra về trong gió sào sạc cuộn lăn lá vàng trên đường phố. Đêm đã về khuya trên phố cũ êm đềm.

 Một buổi chiều muộn đầu năm 1984 tôi nhận được điện thoại của Trên gọi bảo:

“ Sáng mai, lúc 10g, cậu đến 6B Chùa Một Cột gặp Anh Mười Hương”, lúc đó điện thoại đặt nhà riêng chỉ dành cho Thứ trưởng trở lên, vì tôi tham gia Công tác Đặc biệt nên được lắp đặt ở nhà riêng – Căn hộ rộng 21m2 số 21/E1 Văn Chương, Hà nội một điện thoại hữu tuyến số 63002.Tôi đến đúng hẹn, người cảnh vệ nói tôi vào tầng trệt chờ, phòng rộng chừng 40m2, không bài trí gì, có mỗi một bàn họp dài và khoảng 8 ghế tựa. Tôi ngồi chờ một lúc thì cửa cuối phòng mở ra, Chú Mười Hương tập tễnh đi vào, cười gật đầu, rồi tự kéo ghế ngồi, Chú bảo:

- “ Trước Cách mạng (Tháng 8/1945) nhà Chú ở gần nhà Bố, Mẹ cháu ở Thái Hà,….”,

tiếp theo Chú nói chuyện vui một lúc rồi bảo tôi:

- “ Cháu hãy là MỘT NGƯỜI BÌNH THƯỜNG”,…

Rồi Chú lại kể mấy chuyện khi ở ATK (An toàn khu – Việt Bắc), tôi lễ phép ngồi nghe, sốt ruột, tôi hỏi lại:

- “ Thưa Chú cháu học xong bây giờ làm thế nào?”.

Chú Mười Hương cười bảo :

- “ Chú vừa nói rồi!”.

Chú nói vui thêm một lúc nữa rồi đứng dậy đi ra, lúc đó là 11g gần trưa.

 Hai biệt thự số 66 phố Chùa Một Cột diện tích khuôn viên là 1.014 m2 và nhà số 6B Diện tích khuôn viên là 740 m2phố Chùa Một Cột là nơi làm việc Công tác Đặc biệt của Trung ương từ 1956. Đến năm 2025 cả hai biệt thự bị phá dỡ san phẳng theo Công văn 3170/BTL-VP ngày 20/6/2025 kèm theo Thuyết minh Quy hoạch chi tiết khu vực dự án đầu tư mở rộng Quảng trường Ba Đình.

Chị cả tôi là Vũ Giáng Hương lúc đó là Phó Hiệu Trưởng trường Mỹ thuật Yết Kiêu do Danh Họa Trần Đình Thọ làm Hiệu trưởng, Chị kể lại Chú Mười Hương đến lúc Chị đang làm việc với Tô Duy – Em thứ Tô Hiệu lúc đó đương nhiệm Chủ Tịch Hội đồng Trọng tài Nhà nước về Vụ PK82 - Thiết kế xây dựng Bảo tàng Phòng không, Không quân ký qua Pháp nhân Trường Mỹ Thuật Yết Kiêu. Khi thấy Chú Mười Hương vào, Tô Duy sợ đứng lên không dám ngồi nữa. Vụ PK82 đặt ra phải đổi mới chính sách điều hành kinh tế của Nhà nước đối với cán bộ khoa học. Chú Tố Hữu là Phó Chủ tich Thường trực Hội đồng Bộ Trướng (Phó Thủ Tướng Thường trực Chính phủ) phải thốt lên:

-         “ Khổ quá, làm cho Nhà nước ngoài giờ là có TỘI còn ai dám làm nữa!”,

Vì thế Chú Tố Hữu đã ký Nghị định 182/TTg / 1982 khuyến khích Cán bộ Khoa học làm cho Nhà nước được làm việc chuyên môn ngoài giờ.

 

 Ảnh chụp trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 04/10/1984 cùng với Ban xây dựng Huyện thành phố Hải Phòng. Từ trái sang phải là ba Bí thư Quận ủy, Bí thư Thành ủy Hải phòng Đoàn Duy Thành, Trưởng Ban Xây dựng huyện Hải Phòng, Vũ Ngọc Phương đang hỏi Bí thư Thành ủy Hải phòng, tiếp theo bên phải ảnh là ba bí thư Huyện ủy Hải phòng.

 

 Ảnh chụp trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 04/10/1984 cùng với Ban Xây dựng Huyện Hải phòng. Từ trái sang phải ba Bí thư Quận ủy, đứng chính giữa là Bí thư Thành ủy Hải phòng Đoàn Duy Thành, Trưởng Ban Xây dựng huyện Hải Phòng, đứng sau là Vũ Ngọc Phương, bên phải là ba bí thư Huyện ủy Hải phòng.

 Quan điểm -Tư tưởng về Giá – Lương – Tiền phải nhìn lại hoàn cảnh lịch sử lúc đó sau Giải phóng miền Nạm 30/4/1975, đời sống của Nhân Dân cả nước lâm vào cảnh cùng cực vì chúng ta thực hiện cải tạo Công thương nghiệp Tư bản Tư doanh theo mô hình Trung Quốc và Kế hoạch hóa nền kinh tế cả nước. Ông Lê Duẩn bày tỏ sự ủng hộ đối với những cải cách này tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V năm 1982. Trong các bài phát biểu, Ông Lê Duẩn nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải đồng thời củng cố cả nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung lẫn kinh tế địa phương. Trong Báo cáo chính trị, Lê Duẩn thẳng thắn thừa nhận rằng Kế hoạch 5 năm lần thứ hai đã thất bại trên phương diện kinh tế.

 Thượng tướng Trần Văn Trà kể lại về Ông Lê Duẩn trong quyển hồi ký “Những chặng đường lịch sử của B2 thành đồng (1992)” - Một ngày của năm 1959, ông Trần Văn Trà nghe bản tin của BBC về cuộc chạm súng giữa một trung đội quân Việt Nam Cộng Hòa và nhóm quân của những người kháng chiến ở Đồng Tháp Mười. Theo bản tin, hai bên rút đi sau hai giờ giao tranh mà không có thương vong. Ông Trà rất ngạc nhiên và kết luận hoặc bản tin của BBC sai lạc, hoặc khả năng tác chiến của những cán bộ kháng chiến miền Nam cần được cải thiện. Ngày hôm sau, đi cùng một người bạn, ông Trà đến gặp ông Lê Duẩn và nói cần đưa cán bộ tập kết vào Nam để tăng cường đào tạo cho các đồng chí ở đấy. Ông Duẩn được cho xem đề nghị gửi 100 cán bộ trẻ từ Bắc vào Nam. Ông Lê Duẩn ngẫm nghĩ rồi nói sẽ khó thực hiện vì Bộ Chính trị chưa quyết. Khi ông Trà nhấn thêm, ông Duẩn hỏi liệu có giảm số lượng được không. Con số mới đưa ra là 50. Ông Duẩn lại bảo ông sẽ tự chịu trách nhiệm nếu con số nhỏ hơn nữa. Cuối cùng, họ đồng ý về con số 25 người.

 

Ông Lê Duẩn

 

Ông Lê Duẩn - Ảnh chụp 1965

Lê Duẩn (1907-1986), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1960 cho đến khi qua đời năm 1986, có một ảnh hưởng chính trị rất lớn tại Bắc Việt và ở Việt Nam sau 1975, khi hai miền thống nhất.Vì nhiều lý do, như nhiều tài liệu của phía Việt Nam chưa được giải mật, cho đến hôm nay giới nghiên cứu vẫn chưa biết được hết mức độ ảnh hưởng của ông Lê Duẩn trong các chính sách của Việt Nam mấy chục năm qua.

 Năm 1985, Ông Lê Duẩn là người đưa khái niệm “Kinh tế nhiều thành phần" vào Nghị quyết của Bộ Chính trị, góp phần đặt nền móng cho công cuộc Đổi Mới được chính thức khởi xướng tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986.

 

Đây được xem là một đóng góp quan trọng nhưng ít được biết tới của Ông Lê Duẩn trong quá trình đổi mới kinh tế. Lê Duẩn từng thể hiện thái độ ủng hộ các sáng kiến cải cách từ cơ sở, nổi bật là chính sách khoán hộ ở Vĩnh Phú do Kim Ngọc khởi xướng. Mặc dù không thể công khai bảo vệ do lo ngại ảnh hưởng tới đoàn kết nội bộ Đảng cho đến khi ông qua đời năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vẫn ở trong tình trạng một nước chậm phát triển, nghèo khổ nhất thế giới.Tuy nhiên thời kỳ 1965 - 1966 Ông Lê Duẩn vẫn kín đáo bày tỏ sự đồng tình và tiếc nuối khi chính sách này bị đình chỉ. Đích thân Ông Lê Duẩn sau đó đã trực tiếp đến thăm, động viên Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc, Ông đã nói với Ông Kim Ngọc rằng những ý tưởng đổi mới tiên phong thường gặp nhiều trở ngại.Sau Vĩnh Phú khoán chui 1965 - 1966 bị phê phán và cấm thì 15 năm sau 1979 - 1980 Ông Lê Duẩn cũng đã về Hải Phòng thị sát khoán Nông nghiệp vào năm 1984 khen ngợi.

 Trong hồi ký “Đồng chí Lê Duẩn – Con người của tình thương và lẽ phải”

(Phần 2 và hết)  03/04/2017  22:26  5632 / Bảo tàng Lịch sử Quốc gia của tác giả Phan Đống Ngạc nguyên Trợ lý 25 năm của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã viết:

 Trong công việc, đồng chí Lê Duẩn là người quyết đoán, mạnh mẽ. Nhưng trong đời thường, đồng chí lại là người dễ xúc động. Sau hiệp định Giơnevơ 1954, theo lệnh Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn nhận nhiệm vụ trở vào Nam Bộ. Lúc đó đồng chí đang công tác tại Quảng Ngãi, phải vào Bình Định, đón máy bay của Ủy ban Liên hiệp đình chiến để bay từ Quy Nhơn vào phía Nam. Đồng chí và đoàn tùy tùng cùng đi bằng ô tô ray từ Quảng Ngãi vào Bình Định. Đồng bào một số vùng có đường sắt chạy qua phía trước chào mừng, nhiệt liệt hoan hô phái đoàn chính phủ. Nhiều người giơ hai ngón tay như nói lên rằng hai năm nữa nước nhà sẽ thống nhất. Nhìn đồng bào hồ hởi vui mừng, đồng chí Lê Duẩn bỗng trào nước mắt, vì đồng chí biết sau hai năm nữa khó thể có tổng tuyển cử, đồng bào sẽ còn bị kẻ thù kìm kẹp ngặt nghèo, khủng bố trả thù nhiều năm nữa.

 

 

Ông Trường Chinh

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Ông Lê Duẩn

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Suốt thời kỳ gần 50 năm từ 1945 – 1995 hết kháng chiến chống Mỹ lại đến biên giới Tây Nam do Khmel Đỏ được Trung Quốc  tiếp tay và xúi dục còn chưa kết thúc thì tiếp luôn là chiến tranh Biên giới phía Bắc và Vị Xuyên của Trung Quốc bùng phát. Trên toàn thế giới, Việt Nam bị Mỹ cấm vận vẫn đang tiếp diễn. Nước duy nhất ủng hộ Việt Nam toàn diện là Liên Xô lại đang thực hiện nền Kinh tế Kế hoạch hóa, cấm kinh tế cá thể, cấm kinh tế thị trường nên Việt Nam không thể khác được.

 

Khi sinh thời, Ông Lê Duẩn đặc biệt phản đối mọi can thiệp vào mục tiêu thống nhất đất nước bằng quân sự, kể cả từ các đồng minh lớn. Ông từng khẳng định với Hồ Chí Minh rằng:

- “Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, thì nhất định không được sợ Mỹ, càng không được sợ Trung Quốc và Liên Xô!”

Tại cuộc gặp với Chu Ân Lai năm 1971, ông cũng khẳng định dứt khoát:

- "Việt Nam là của chúng tôi; không phải của đồng chí".

Ngày 12/5/1977, Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Lê Duẩn kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Chế độ do Nhân dân làm chủ, coi đây là nền tảng tư tưởng chính trị quan trọng. Từ Đại hội III Đảng Lao Động Việt Nam (1960), ông đã đề cao vai trò làm chủ của nhân dân lao động. Tại Đại hội IV, ông xác định rõ hai nhiệm vụ trọng tâm: "phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân" và "nắm vững chuyên chính vô sản thông qua việc tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và xây dựng Nhà nước vững mạnh". Theo Lê Duẩn, chế độ làm chủ không đơn thuần là một khái niệm chính trị hay kinh tế, mà là một "triết lý đầy Nhân đạo". 

 Trong hoạt động thực tiễn, Ông Lê Duẩn được đánh giá là người thực dụng và linh hoạt. Ông chủ trương vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx – Lenin, tìm kiếm con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Tư tường của Ông Lê Duẩn về chủ nghĩa xã hội phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc thống nhất, tập trung và quản lý cao, nhưng đồng thời phải gắn với lợi ích thiết thực của Nhân dân, thường xuyên nhấn mạnh rằng Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó cán bộ, đảng viên phải chăm lo đầy đủ đời sống cho nhân dân, không phân biệt "bên này, bên kia", vì tất cả đều là công dân nước Việt Nam, đem lại quyền làm chủ tập thể cho Nhân dân lao động - Lê Duẩn, phát biểu tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa IV), tháng 9/1980.

 Tổng Bí thư Lê Duẩn đã ký duyệt và nói về Chiến tranh Nhân Dân:

- “Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường,…

Trong tương lai không xa, nếu chúng ta chiến đấu chống lại Trung Quốc, chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng … Hiện tại, chúng ta có biên giới với một nước rất mạnh, một nước với ý đồ bành trướng mà nếu muốn được thực hiện, phải bắt đầu với một cuộc xâm lược Việt Nam,… Trận đánh gần đây (với Trung Quốc đầu năm 1979) chỉ là vòng một. Hiện họ vẫn còn chuẩn bị nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bất kể họ chuẩn bị đến mức độ nào, Việt Nam cũng sẽ thắng,… Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả. Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai…. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập,…”. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã làm chúng ta nhớ lại nhớ câu nói nổi tiếng của Tướng De Castries (Đờ -ca-xtơ-ri) sau khi bị bắt ở Điện Biên Phủ đã được phía Ta trả tự do về Pháp. Khi về nước vị tướng bại trận này đã nói trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp:

-“Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một Dân tộc”. - Điều mà người Pháp đã nhầm khi đánh giá lực lượng họ chỉ đo đếm quân chủ lực giữa hai bên mà không biết rằng trong cuộc chiến đấu này chúng ta đã huy động sức mạnh của cả Dân tộc Việt Nam. Sau này, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Strange McNamara từng nói: “Mỹ thua vì không hiểu được chiều sâu văn hóa giữ nước của người Việt”.

 Ông Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất, sau là Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam nay là Đảng Cộng Sản Việt Nam – Một trong những Nhà Lãnh tụ vĩ đại, kiệt xuất của Cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã có những nhận định rất sâu sắc về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong bài “Bài phát biểu của Lê Duẩn tại Quân ủy Trung ương năm 1979This entry was posted on Tháng Năm 28, 2014, in Lịch sử Việt Nam and tagged chiến tranh 1979, Lê Duẩn. Bookmark the permalink. Tài liệu do Christopher Goscha có được và dịch cho CWIHP do Ngọc Thu, dịch tWilson Center USA - Nguồn bài đăngTrung tâm tư liệu nghiên cứu Hoa Kỳ”.

 Chính Nhà Triết học – Văn hóa vĩ đại Trung Hoa là Khổng Tử còn gọi là  Khổng Phu Tử ( - sinh ngày 27 tháng 8 âm lịch, năm 551 Tr.CN – mất năm 479 Tr.CN), đã viết trong Thiên Trung Dung : “Độ lượng bao dung, ôn hòa, giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của Phương Nam, người Quân tử ở đấy. Mặc giáp, cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của Phương Bắc, kẻ Cường bạo ở đấy”.

 Cũng trong hồi ký “Đồng chí Lê Duẩn – Con người của tình thương và lẽ phải”

(Phần 2 và hết)  03/04/2017  22:26  5632 / Bảo tàng Lịch sử Quốc gia của tác giả Phan Đống Ngạc nguyên Trợ lý 25 năm của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã viết:

 Là một nhà lãnh đạo nguyên tắc, đồng chí Lê Duẩn còn là một người đồng chí, một người bạn thủy chung sâu sắc nghĩa tình. Sau mấy năm ốn nặng, đến một ngày biết mình không qua khỏi, đồng chí cho mời đồng chí Trường Chinh đến nhà. Đang nằm trên tầng 2, dù đã yếu mệt nhiều, đồng chí vẫn yêu cầu giúp mình mặc quần áo chỉnh tề, rồi dìu xuống phòng khách để tỏ lòng tôn trọng đối với đồng chí Trường Chinh – một nhà lãnh đạo hàng đầu của Đảng mà đồng chí tin cậy, gắn bó suốt mấy chục năm. Trong cuộc nói chuyện, đồng chí Lê Duẩn đã gửi gắm vào đồng chí Trường Chinh với lòng tin cậy sâu sắc về công việc của Đảng, về tất cả những gì mình muốn làm mà chưa làm được cho đến lúc sắp đi xa.

 Ghi chú: Phan Đống Ngạc là họ bên Mẹ tôi – Lê Hằng Phương (Đường Hằng Phương Nữ sỹ) theo thứ bậc tôi gọi là Anh Phan Đống Ngạc. Mùa hè năm 2001, tôi có cùng Anh Phan Diễn đến nhà riêng ở Nghĩa Đô, Hà Nội thăm Anh.

 Ông Lê Duẩn mất ngày 10/7/1986. Ngày 14/7/1986, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp phiên bất thường, chính thức bầu Ông Trường Chinh giữ chức Tổng Bí thư, lúc đó Ông Trường Chinh đang giữ chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

 Tôi là một cộng tác viên của Anh Hà Nghiệp nên có tham gia viết bài tranh luận về “Giá – Lương – Tiền” dưới hình thức khác. Lúc đó tôi chỉ là “Người Chầu rìa” của Ban sửa đổi Báo cáo Chính trị Đại Hội Đảng VI/1996, tôi có đọc sách “ Kinh tế học Hiện đại” bản in roneol do dịch giả Võ Đại Lược dịch đầu tiên và nhiều thông tin khác, vậy mà cũng đã viết một bài với nội dung đang tranh luận là “ Giá do Tiền định ra” hay “Giá do Thị trường định ra”. Thời kỳ này đang có hai quan điểm, một là “ Tiền định Giá”, hai là “ Thị trường định Giá”. Ý kiến đa số trong Tổ công tác là “ Thị trường Định Giá”. Nhưng đa số tư tưởng lúc bấy giờ là Giá do Tiền định ra, chỉ có một số ít trong Trung ương là ủng hộ quan điểm “ Thị trường định Giá”. Sau khi viết xong tôi nộp bài cho Anh Nguyễn văn Thanh. Bác Trường Chinh có đọc tất cả bài viết rồi chọn ra giao cho Tạp chí Học tập đăng, trong đó có bài viết của tôi.Có không ít Vị Trung ương khi đọc đã phẫn nộ:

“ Vũ Ngọc Phương là thằng nảo?... Kỷ luật Nó đi”.

Tuy vậy, đến khi vào Hội nghị thì quan điểm “ Tiền định Giá” thắng thế. Ngày 14/09/1985, Thủ tướng Phạm văn Đồng chấp hành Nghị quyết ký quyết định đổi tiền. Tuy nhiên theo Quyết định số 01-HĐBT-TĐ ngày 13/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng. Cả nước đổi tiền vào ngày 14/09/1985.

Để giữ bí mật trong hoàn cảnh lúc đó,ngày 12/9/1985, trang nhất báo Tuổi Trẻ còn khẳng định "Bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của gian thương..." nhưng hai ngày sau, 14 tháng 9 thì có lệnh thu hồi tiền cũ và đồng loạt thay tiền mới. Lý do đưa ra là để tăng cường "lợi ích của dân lao động." Việc thi hành toàn diện gồm các khoản tiền trong ngân hàng và tiền lưu hành trong dân chúng. Tiền lưu hành phải nộp lại trong vòng 3-5 ngày với tỷ lệ 1 đồng mới ứng với 10 đồng cũ. Ngoài ra số tiền ký thác trong các trương mục ngân hàng ( Lúc bấy giờ chỉ có Quốc Doanh) cũng được định giá theo một công thức căn cứ vào thời gian ký thác như sau:

       1.    Lượng tiền gửi trước 1 tháng 3 năm 1978: 1 đồng cũ=1 đồng mới

2.    Lượng tiền gửi trong thời khoản 2 tháng 3 năm 1978 đến 31 tháng 5 năm 1981: 2 đồng cũ=1 đồng mới

3.    Lượng tiền gửi trong thời khoản 1 tháng 6 năm 1981 đến 31 tháng 12 năm 1984: 6 đồng cũ=1 đồng mới

4.    Lượng tiền gửi trong thời khoản 1 tháng 1 năm 1985 đến 31 tháng 7 năm 1985: 9 đồng cũ= 1 đồng mới, và

5.    Lượng tiền gửi trong thời khoản 1 tháng 8 năm 1985 đến 14 tháng 9 năm 1985 (ngày đổi tiền): 10 đồng cũ=1 đồng mới.

Số tiền đang lưu hành khi đổi cũng bị hạn chế theo những số lượng nhất định:

·         Mỗi gia đình chỉ được đổi 20.000 đồng cũ lấy 2.000 đồng mới

·         Hộ độc thân chỉ được đổi 15.000 đồng cũ lấy 1.500 đồng mới

·         Hộ kinh doanh công thương nghiệp thì được đổi 50.000 đồng cũ lấy 5.000 đồng mới.”

  Ông Phạm văn Đồng thì ký và quyết định đổi tiền nhưng ông Tố Hữu là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại bị cách tất cả chức vụ và không còn ở trong Trung ương Đảng. Tôi được biết theo ý kiến của một số Vị Lãnh đạo lúc bấy giờ:

-                   “ Tố Hữu là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng Thường trực) lại được Ông Lê Duẩn quý trọng nên ông Đồng (Phạm văn Đồng) nghỉ thì Tố Hữu cũng phải nghỉ”.

 

Sau đổi tiền tháng 9/1985, lạm phát phi mã tăng tới 780% vào năm 1986, Dân rất khốn khổ, dân có câu vè: “ Trần Phương, Trần Chuyến (Đoàn Trọng Chuyến là Thân sinh của Đoàn Mạnh Giao, Bộ trưởng, Chủ Nhiệm Văn phòng Chính Phủ sau này), Trần Quỳnh, ba thằng đồng tình nâng giá hàng lên”.

 

Một lần tôi đến thăm Anh Trần Phương rất thân với Anh Vũ Tuyên Hoàng và tôi. Lúc đó Anh Trần Phương ở 2 căn hộ đầu cầu thang, tấng 2, Nhà lắp ghép Trung Tự, Hà nội. Anh Trần Phương có cười chua chát đọc bài thơ do Anh làm cho tôi nghe:

“ Trên tôi là một Nhà thơ, Dưới tôi một lũ ngu ngơ biết gì”.

Anh đã xin từ chức Phó Thủ Trướng về nghỉ,….

 

Ngày 18/5/1986, trong bài phát biểu tại Hội nghị Bộ Chính trị,Tổng Bí thư Trường Chinh đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc Trao đổi thẳng thắn, có tinh thần trách nhiệm”, và “Điều tuyệt đối tránh là không vì ý kiến khác nhau mà quy chụp”.

 

Đặc biệt lúc đó là vấn đề tập trung vào Giá – Lương – Tiền. "Lúc bấy giờ nền kinh tế Việt Nam dựa nhiều vào sự chi viện bên ngoài, ta làm lại kế hoạch thì phải thuyết phục các nước bạn điều chỉnh cho phù hợp, trong khi họ đã làm kế hoạch xong rồi", ông Phan Diễn kể lại trong bài viết:Đồng chí Trường Chinh với công cuộc đổi mới đất nước” -  Phan Diễn/ 08:06, ngày 07-02-2007 / Tạp chí Cộng sản:Cuối tháng 7/1986, Tổng bí thư Trường Chinh lên đường sang Liên Xô. Trong chuyến đi kéo dài hơn 15 ngày, ông bàn với lãnh đạo Liên Xô và các nước XHCN điều chỉnh lại kế hoạch hợp tác kinh tế với Việt Nam trong 5 năm 1986-1990 đã được xác định trước đó.Sau khi trở về, vào cuối tháng 8, ông chủ trì cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị bàn về các quan điểm kinh tế. Với kết luận này, toàn bộ đường lối kinh tế của Việt Nam đã thay đổi. Từ sự thống nhất trên, Tổng bí thư Trường Chinh cùng nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện Báo cáo chính trị trình Đại hội VI. Để giải quyết sự vụ hóc hiểm này, Ông Trường Chinh giao cho Ban thư ký nghiên cứu, đề xuất cải cách về Giá – Lương – Tiền. Ông Hà Nghiệp lúc đó là Trợ lý của Ông Trường Chinh phụ trách chính.

 

Nhóm công tác gồm có: Phụ trách là Trợ lý Hà Nghiệp, Giáo sư Trần Nhâm, Thư ký Bảo mật Nguyễn văn Thanh. Các ông Phan Diễn, Trần Đức Nguyên, Lê văn Viện, …sau này có thêm Giáo sư Dương Phú Hiệ. Nhóm công tác được tổ chức thành Tổ Biên tập viết lại toàn bộ Báo cáo Chính trị Đại hội VI gồm mười người, tổ trưởng là Hoàng Tùng, tổ phó là Đào Duy Tùng. Thành viên chủ chốt là Phan Diễn, Hà Nghiệp, Lê Văn Viện, Trần Đức Nguyên, người bổ sung cuối cùng là Lê Xuân Tùng.Tổ biên tập phân công Phan Diễn viết “Đổi mới tư duy về cơ cấu kinh tế”, Hà Đăng viết phần “Chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần”, Trần Đức Nguyên viết “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế”. Công lao lớn nhất biên soạn Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng VI/1986 là Hà Nghiệp, Phan Diễn và Trần Đức Nguyên.Trong tình hình nền kinh tế đất nước suy thoái rất nghiêm trọng – đặc biệt vấn đề gay gắt là Giá – Lương – Tiền. Với kết luận này, toàn bộ đường lối kinh tế của Việt Nam đã thay đổi. Từ sự thống nhất trên, Tổng bí thư Trường Chinh cùng nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện Báo cáo chính trị chuẩn bị cho Công cuộc Đổi Mới tại Đại hội Đảng VI tháng 12/1986.

 

 

Ông Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính trị,

Thường trực Ban Bí thư, Bộ Chính trị Trung ương Đảng

 

Đặc biệt lúc đó là vấn đề tập trung vào Giá – Lương – Tiền. Lúc bấy giờ nền kinh tế Việt Nam dựa nhiều vào sự chi viện bên ngoài, ta làm lại kế hoạch thì phải thuyết phục các nước bạn điều chỉnh cho phù hợp, trong khi họ đã làm kế hoạch xong rồi", ông Phan Diễn kể lại trong bài viết:Đồng chí Trường Chinh với công cuộc đổi mới đất nước” – Phan Diễn / 08:06, ngày 07-02-2007 / Tạp chí Cộng sản:Cuối tháng 7/1986, Tổng bí thư Trường Chinh lên đường sang Liên Xô. Trong chuyến đi kéo dài hơn 15 ngày, ông bàn với lãnh đạo Liên Xô và các nước XHCN điều chỉnh lại kế hoạch hợp tác kinh tế với Việt Nam trong 5 năm 1986-1990 đã được xác định trước đó.Sau khi trở về, vào cuối tháng 8, ông chủ trì cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị bàn về các quan điểm kinh tế. Tại đây, các nhà lãnh đạo đi đến thống nhất 3 quan điểm cơ bản:

Một là, thay vì ưu tiên phát triển công nghiệp nặng theo cách làm của các nước XHCN, từ nay trong bố trí cơ cấu kinh tế phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, "trước mắt lo lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu".

Hai là, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, cho phép kinh tế tư nhân phát triển.

Ba là, trong khi lấy kế hoạch là trung tâm, phải đồng thời sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa tiền tệ.

"Việc thừa nhận sai lầm khi kế hoạch hoá mọi thứ, không công nhận quy luật giá trị, không công nhận kinh tế thị trường thể hiện bước chuyển cực kỳ lớn trong tư duy của tập thể lãnh đạo. Trước đó chỉ vài tháng, ai nhắc đến kinh tế tư nhân, giá cả thị trường…có thể bị coi là phản động, có thể bị bắt ngay lập tức", ông Phan Diễn nói. Theo VNE

 

Để giải quyết sự vụ hóc hiểm này, Ông Trường Chinh giao cho Ban thư ký nghiên cứu, đề xuất cải cách về Giá – Lương – Tiền. Ông Hà Nghiệp lúc đó là Trợ lý của ông Trường Chinh phụ trách chính. Nhóm công tác gồm có: Phụ trách là Trợ lý Hà Nghiệp, Giáo sư Trần Nhâm, Thư ký bảo mật Nguyễn văn Thanh. Công việc còn có các ông Phan Diễn, Trần Đức Nguyên, Lê văn Viện, …sau này có thêm Giáo sư Dương Phú Hiệp., nhóm công tác được tổ chức thành Tổ Biên tập viết lại toàn bộ Báo cáo Chính trị Đại hội VI gồm mười người, tổ trưởng là Hoàng Tùng, tổ phó là Đào Duy Tùng. Thành viên chủ chốt là Phan Diễn,Hà Nghiệp,Lê Văn Viện,Trần Đức Nguyên, người bổ sung cuối cùng là Lê Xuân Tùng.Tổ biên tập phân công Phan Diễn viết “Đổi mới tư duy về cơ cấu kinh tế”, Hà Đăng viết phần “Chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần”, Trần Đức Nguyên viết “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế”. Công lao lớn nhất biên soạn Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng VI/1986 là Hà Nghiệp, Phan Diễn và Trần Đức Nguyên.Trong tình hình nền kinh tế đất nước suy thoái rất nghiêm trọng – đặc biệt vấn đề gay gắt là Giá – Lương – Tiền. Để chuẩn bị cho Công cuộc Đổi Mới tại Đại hội Đảng VI tháng 12/1986. Các thành viên của Tổ biên soạn lại Báo cáo Chính trị cho Đại Hội Đảng VI thường đến làm việc và thảo luận tại nhà làm việc tại nhà làm việc Ban Thư ký của Tổng Bí thư Trường Chinh.Đến tháng 12/1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Ông Trường Chinh xin rút khỏi các chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước và được Ban chấp hành Trung ương Đảng cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban soạn thảo Cương lĩnh và chiến lược kinh tế và kiêm Trưởng tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh chính trị của Đảng. Các thành viên của Tổ biên soạn lại Báo cáo Chính trị cho Đại Hội Đảng VI thường đến làm việc và thảo luận tại nhà làm việc tại nhà làm việc Ban Thư ký của Tổng Bí thư Trường Chinh.

 

Ông Phan Diễn, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban bí thư, từng là thư ký của Tổng bí thư Trường Chinh nhớ lại: “Lúc này chỉ còn mấy tháng nữa là đến Đại hội VI. Báo cáo chính trị chuẩn bị trước đó đã đưa xuống cho các đảng bộ bên dưới thảo luận, góp ý, nếu viết lại thì gần như phải "lật tung mọi thứ lên". Hơn nữa báo cáo chính trị liên quan đến kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm (1986 - 1990), vốn đã chuẩn bị xong với sự giúp đỡ của nhiều nước XHCN khác.

 

Đến tháng 12/1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Ông Trường Chinh xin rút khỏi các chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước và được Ban chấp hành Trung ương Đảng cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban soạn thảo Cương lĩnh và chiến lược kinh tế và kiêm Trưởng tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh chính trị của Đảng. Anh Vũ Tuyên Hoàng lúc bấy giờ được là Đại biểu dự Đại hội Đại biểu Đảng Toàn quốc lần thứ 6, không có nhà riêng được cấp ở Hà nội nên tối tối về căn hộ Phòng 21/ Nhà E1 Văn chương, Hà nội. Gần như đã khuya mới được về nghỉ, Anh mệt mỏi bảo: “ Phải họp liên tục 18 ngày đêm để bầu Tổng Bí thư”.

 

Nguyên Tổng Bí thư Trường Chinh mất ngày 30/9/1988 tại Hà Nội, thọ 81 tuổi.

 

Khoảng 14g20 trưa ngày 30/9/1988 tôi có ghi vào sổ công tác là nhận được điện thoại của Anh Nguyễn văn Thanh Thư ký Bảo Mật còn ở lại giúp việc cho Ông Trường Chinh: “ Cậu đến ngay gặp anh”.

Trưa đó rất nóng oi, Anh Nguyễn văn Thanh kéo ngay tôi ra ngồi xổm trên đất vườn nho cằn cỗi trước cửa phòng Thư ký, Anh nói nhỏ đủ nghe: “ Cụ vừa mât!”.

 Tôi hỏi lại: “ Tại sao?”.

Anh nói gần như thì thầm:

“ Cụ vẫn nói ăn cơm tầng 1. làm việc tầng 2, ngủ tầng 3. Trưa nay Cụ lên gác mới nhớ quên ca nước trà ở tầng 1 nên trở xuống lấy. Khi lên Cụ bị trượt chân ngã ngửa, gáy đập vào bậc thang đứt lìa, vết rất sắc,… Nghe tiếng hét, Anh chạy lên thì Cụ đã chết rồi. Thằng bảo vệ tiếp cận thấy trước sau đấy Bà mới lên thấy hét ầm lên, … Anh ở bên này chạy sang. Ngày mai Cụ và các anh đi Ba Bể (Hồ Ba bể thuộc tỉnh Bắc Can), ở trên ấy để Cụ viết hồi ký”

Tôi nói thật khẽ:

-“ Anh ghi lại,….”

 Tháng 10/1988 tôi có được giao nhiệm vụ thành lập Trung tâm - Liên doanh Phẫu thuật Tạo hỉnh Thẩm Mỹ với Bộ Quốc phòng. Ông Lê Đức Anh, Bộ Trưởng Quốc phòng lúc đó chỉ định Quân y Viện 108 hợp tác. Viện Quân y 108 giao Thiếu tướng Bác sỹ Nguyễn Huy Phan trực tiếp liên hệ với Anh Trần Tấn, Chủ tịch Ủy Ban Nhân dân thành phố Hà Nội. Thế nào mà Anh Nguyễn Huy Phan lại là đồng đội thân thiết của người anh rể tôi là Giáo sự Bác sỹ Lê Cao Đài chồng chị Vũ Giáng Hương. Tôi đã đến căn hộ tập thể đầu tiên của Anh Nguyễn Huy Phan ở đầu nhà trong cùng 43 Trần Phú, Hà nội. Sau khi đi Mỹ về lần đầu, gia đình Anh Nguyễn Huy Phan được chuyển về tầng 1 biệt thự số     Hoàng Diệu, Hà nội. Những lần đi Mỹ tiếp theo tôi thường lại nhà riêng của Anh Nguyễn Huy Phạn để trao đổi ý kiến cấp trên. Chị vợ Anh đẹp, cao lớn so với phụ nữ lúc đó ra rót nước trà cho hai anh em, sau Anh Nguyễn Huy Phan kể:

- “ Nhà tôi hỏi Cậu ấy trẻ mà làm gì toàn truyền mệnh lệnh cho Anh thế? Tôi cười bảo em không biết đâu”.

Trong lúc hàn huyên sự đời, tôi có hỏi Anh Nguyễn Huy Phan là Chủ nhiệm Khoa tạo hình Quân y viện 108 có khâu lại gáy Bác Trường Chinh trước khi liệm không?

Anh cười bảo: “ Có chứ”.

Tôi lại hỏi: “ Thế khi Bác ngã thì ai nhìn thấy trước?”,

Anh bảo: “ Bác Gái. Việc này có  ghi trong sổ y khoa”.

 

 

Công văn của Ông Lê Đức Anh Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng gửi Anh Trần Tấn, Chủ Tịch Ủy Ban NDTP Hà Nội về thành lập Trung tâm Tạo hình Thẩm mỹ để nhận viện trợ Nhân đạo Mỹ.

Anh Lê Minh Hùng cao gầy, trước là thư ký của Ông Trần Vỹ, sau khi Ông Trần Vỹ nghỉ công tác Chủ Tịch Ủy Ban NDTP Hà Nội thì Anh Lê Minh Hùng sang làm Thư ký cho Anh Trần Tấn – Người kế nhiệm Chủ Tịch Ủy Ban Nhân dân thành phố Hà Nôi. Nhà riêng Anh Sinh Hùng ở tầng 1 chật chội của một nhà cũ liền tường phố Hàng Buồm, Hà nội.

 

Sau khi Ông Trường Chinh thôi chức Tổng Bí thư nghỉ và định đi về Hồ Ba Bể viết hồi ký thì bất ngờ ngã cầu thang qua đời, Anh Hà Nghiệp, Giáo sư Trần Nhâm đi nhận công tác khác. Ban Thư ký nguyên Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ còn Anh Nguyễn văn Thanh ở lại giúp việc. Sau khi ông Nguyễn văn Linh kế nhiệm Tổng Bí thư cũng nghỉ, năm 1994 ông Đỗ Mười làm Tổng Bí thư lại bổ nhiệm Anh Hà Nghiệp làm Trợ lý. Ông Võ văn Kiệt làm Thủ Tướng Chính phủ có mời và giới thiệu Anh Hà Nghiệp làm Bộ Trưởng Bộ Cơ khí Luyện kim nhưng Ông Đỗ Mười giữ lại. Anh Hà Nghiệp có kể lại cho tôi:

-“ Cụ - ông Đỗ Mười bảo là - Thôi mấy Anh già ở lại, còn thằng Lê Đức Thúy (Học phiên dịch tiếng Nga) còn trẻ cho nó bay nhẩy”. Thế là Lê Đức Thúy đi học ở Mỹ về quản lý kinh tế, trở về lên chức Thống đốc Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam thời kỳ 1999 – 2007.

 

Anh Hà Nghiệp không thích viết bài hay trả lời phỏng vấn báo chí nên ngoài xã hội không mấy ai hay, nhưng trong Chính trị thời đó ai cũng biết uy tín, trình độ cao siêu toàn diện của Anh Hà Nghiệp. Có nhiều Vị là Lãnh đạo Đảng – Nhà nước nhận xét: “ Trong lịch sử Việt Nam, Hà Nghiệp là một phần Linh hồn, là Khai quốc Công thần của Thời đại Đổi Mới”.

 

Ban Tài chính Quản trị Trung ương phân phối nhà riêng cho Anh Hà Nghiệp về khu Trung ương Vạn Bảo, Ba đình, Hà nội. Nhà riêng Anh Hà Nghiệp trở thành nơi tụ hội của Lãnh đạo Đẩng – Nhà nước lúc bấy giờ. Anh Hà Nghiệp hay tổ chức ăn chiều, thứ rẻ và nhiều là long lợn luộc. Tôi còn nhớ có lần đang ngồi trên chiếu trải xuống nền nhà, ngồi chung quanh có Anh Hà Nghiệp, Trần Đức Nguyên, Nguyễn văn Thanh, ngồi đối diện tôi là Anh Phan văn Khải, Phó Thủ Tướng Chính phủ. Chợt cửa mở ra, ông Đỗ Mười tóc bạc trắng, mặc áo cộc tay có hai túi to dưới để kính và mấy thứ bút viết,… đi vào. Chưa kịp chào, ông Đỗ Mười đã nói: “ Vui nhỉ,…” rồi ông nhón một miếng lòng non luộc lên ăn bảo: “ Ngon đấy,…”. Vừa ăn, ông Đỗ Mười vừa kéo Anh Hà Nghiệp ra góc nói nhỏ giao mấy việc.

 

Góc nhà quạt tai voi Liên Xô ra sức quay mà vẫn oi bức.Vì suy tư, hút thuốc lá nhiều, Anh Hà Nghiệp bị Cangse Alphom, khi đã nặng vào điều trị ở tầng 2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô. Một buổi chiều muộn tôi vào thăm, lúc đó Anh Hà Nghiệp sắp mất, không nói được nhưng rất tỉnh táo, nằm trên gường, bên có Vợ là Chị Tuyết cùng một người con gái lớn, Anh Hà Nghiệp đã không nói được nhưng cứ nhìn tôi rồi chắp tay vái vái,… Thương xót cho Anh Hà Nghiệp quá,… Nhưng tôi phải đi vì nhiệm vụ gấp. 

Những công việc bộn bề làm hai anh em Nguyễn văn Thanh và tôi ít khi gặp nhau, sau nghe nói Anh Nguyễn văn Thanh chuyển sang làm Phó Chủ nhiệm Văn Phòng Chính phủ. Một lần đầu năm 1999, tôi đang đi dọc hành lang tầng 1 nhà làm việc Văn phòng Chính phủ do Tây xây song song với đường Hoàng Hoa Thám để tìm phòng làm việc của anh Nguyễn Quốc Huy, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính Phủ được chỉ định làm Chủ đầu tư xây dựng bổ sung Văn phòng Chính phủ để hỏi mấy việc thì nghe thấy gọi: “ Thằng Phương, thằng Phương,…Vũ Ngọc Phương”. Quay lại thấy Anh Nguyễn văn Thanh, hai anh em tay bắt mặt mừng. Rồi bẵng đi một dạo, khi nói chuyện với Anh Trần Đức Nguyên mới biết Anh Nguyễn văn Thanh có nhà ở Quận Cầu Giấy, đã mất vì ác bệnh !

(còn nữa)