Hoi nhan tai Viet Nam
Đang tải dữ liệu...
Trang chủ  >  Tiếng Việt  >  Nghiên cứu-Tham luận  >  Tham luận
Khủng hoảng kinh tế và phát triển Việt Nam
Vũ Ngọc Phương
Văn phòng TW Hội
  28/05/2008 09:12:39 AM 

.

.

.

.

Vũ Ngọc Phương
Phó Chủ Tịch thường trực
TW Hội khoa học phát triển nguồn Nhân lực – Nhân tài Việt Nam

Chúng ta đang đối mặt với hai cuộc khủng hoảng lớn của Việt Nam và Thế giới,đó là khủng hoảng lạm phát và khủng hoảng lương thực.Xét về bản chất 2 cuộc khủng hoảng này hoàn toàn khác nhau,khủng hoảng lạm phát làm suy yếu nền kinh tế,ít có khả năng gây ra bạo loạn,bất ổn về chính trị,khủng hoảng lương thực gây bạo loạn tác động mạnh đến chính trị của một quốc gia.

Khủng hoảng lạm phát thế giới có từ khủng hoảng tín dụng thứ cấp dẫn tới khủng hoảng thị trường vay nợ trái phiếu của kinh tế Mỹ,tuy nhiên,do đặc điểm của nền kinh tế Mỹ lớn,chiếm tới hơn 30% của toàn bộ tổng GDP thế giới và có cơ cấu hoàn chỉnh ở mức tự điều chỉnh ở cấp độ cao nên dự đoán khủng hoảng lạm phát Mỹ đã đi đến hồi kết và nền kinh tế Mỹ sẽ phục hồi vào nửa cuối năm 2008 và tiếp tục tăng trưởng ở mức 5,6% vào cuối năm 2009.

Khủng hoảng lạm phát kinh tế Mỹ có tính chu kỳ,từ năm 1982 lợi nhuận của ngành tài chính Mỹ từ 10% đã tăng lên 40% vào năm 2007.Tâm lý phấn khích vì tài sản kinh doanh tăng liên tục hơn hai mươi năm,lạm phát giảm tới mức thấp nhất và lãi suất thấp.Một trong những tác nhân gây lạm phát là từ Cục dự trữ liên bang Mỹ – FED đã giảm lãi suất Quỹ Liên bang từ 3,5% năm 2001 xuống 1% giữa năm 2003. Chính lãi suất hạ là nguồn cung lớn vào thị trường bất động sản Mỹ.Chỉ khi nguồn cung bất động sản vượt quá cầu,giá trị rớt xuống thì nguy cơ tiềm ẩn tín dụng thứ cấp sub – prime thì thị trường tài chính Mỹ mới bộc lộ gây ra khủng hoảng.Tuy nhiên do lãi suất tín dụng Mỹ còn cao nên vẫn điều chỉnh giảm để phục hồi,còn Nhật Bản và EU thì đã giảm gần hết đến 0% nên không có cách gì để điều chỉnh.Ngay cả khi khủng hoảng thứ cấp Mỹ thì lạm phát của Mỹ chỉ ở mức 2,2%,tỷ lệ thất nghiệp là dưới 5%.Thực tiễn khủng hoảng lạm phát hiện nay chỉ là sự suy giảm nhẹ của nền kinh tế Mỹ.

Về sự mất giá của Dollars Mỹ,có nhiều ý kiến rất trái ngược nhau.Có ý kiến cho rằng từ nợ nước ngoài của Mỹ vượt 9,000.tỷ Dollars buộc Mỹ phải vay mượn,từ khủng hoảng tín dụng thứ cấp,nhập siêu...Nhưng cũng có ý kiến cho rằng Dollars Mỹ giảm giá là do chính sách điều tiết của Mỹ tăng xuất khẩu và điều chỉnh chiến lược toàn cầu trong đó có quan hệ Mỹ - Trung Quốc,buộc tăng giá đồng Nhân dân tệ và giảm thâm hụt cán cân thương mại do nhập siêu của Trung Quốc.Y kiến này còn cho rằng do các Tập đoàn dầu lửa Mỹ khai thác chính ở Trung Đông không tăng sản lượng khai thác mà tăng giá tác động tiêu cực vào các nền kinh tế lớn mới nổi như Trung Quốc,Ân độ,...là nước đông dân,tiêu thụ nhiều năng lượng sẽ càng phụ thuộc vào Mỹ.Cùng với sự giảm giá dollars Mỹ,tăng giá dầu,còn xuất hiện làn sóng di dân mới từ nhiều nước đang phát triển với chính sách ưu đãi nhập cư người tài vào Mỹ.Người tài sẽ kéo theo vốn lớn,....Đây là điều chỉnh chiến lược để Mỹ duy trì vị trí siêu cường duy nhất trên Thế giới.

Dù là quan điểm nào,chúng ta vẫn phải thừa nhận Mỹ là một nền kinh tế lớn chiếm tới 1/3 tổng sản phẩm Thế giới,có tác dụng lớn đến điều tiết toàn bộ nền kinh tế Thế giới.Mỹ với hệ thống kinh tế – xã hội hoàn chỉnh và nắm giữ tất cả kỹ thuật,công nghệ mũi nhọn nên trong 50 năm tới chưa thể có một nước nào có khả năng thay thế Mỹ.

Lạm phát ở Việt Nam chưa tới mức khủng hoảng, vừa chịu tác động của khủng hoảng lạm phát Mỹ,vừa chịu tác động của giá cả tăng của nền kinh tế Trung Quốc.Mặc dù Chính phủ đã đưa ra biện pháp đúng quy luật và điều chỉnh mức tăng trưởng dự kiến từ 8,5%GDP ~ 9%GDP xuống còn 7,5%GDP thể hiện trong lời phát biểu tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ ngày 25/3 ~ 26/3/2008 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.Đây là một điều chỉnh hợp lý,cần phải thấy rằng bất cứ sự tăng trưởng nào đều có lạm phát,vấn đề là lạm phát ở mức giới hạn kiểm soát dược, để tăng trưởng thực dương.

Tuy nhiên,lạm phát ở Việt Nam có tính cơ cấu nên sự phục hồi phải có thời gian.Nền kinh tế Việt nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá,tập trung quan liêu,bao cấp sang kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa – là một mô hình chuyển đổi chưa từng có trong lịch sử phát triển của thế giới vì vậy có phần mô hình cơ cấu kinh tế của Việt Nam mô phỏng theo cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc.Mặt khác,Tổng kim ngạch mậu dịch song phương Việt Nam – Trung Quốc duy trì ở mức 25% năm thời gian 1993 – 1999,trong thời gian 6 năm 1999 – 2005 tăng 40% năm.Tổng kim ngạch mậu dịch Trung việt từ 390 triệu USD đã tăng 8,19 tỷ USD.Dự kiến năm 2015 đạt 15tỷ USD.Trung Quốc nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là dầu thô và than,Việt Nam nhập khẩu từ Trung quốc chủ yếu dầu ăn,sợi bông,phân hoá học, khi nền kinh tế Trung Quốc có biến động thì tác động tức thì đến tăng trưởng của Việt nam cả về tính chu kỳ cũng như tính cơ cấu có quy luật.Trong ngắn hạn,nơi nào Trung Quốc có tác động giảm phát trong hơn 10 năm qua thì nay tác động của Trung Quốc sẽ gây ra lạm phát.

Từ năm 2003 – 2006,GDP Trung Quốc tăng trên 10%,năm 2007 tăng 11,4%,quý I/2008 tăng 10,6%,đầu tư cố định tăng 24,6%,FDI đạt 80 tỷ USD.Tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế Trung Quốc kéo theo lạm phát tăng,CPI năm 2007 tăng 4,8%,quý I/2008 tăng 8%,lương thực tăng 21%,năng lượng tăng 9,8%.Do mở rộng kim ngạch buôn bán,tiền nước ngoài đổ vào lớn,đến tháng 10/2007 dự trữ ngoại tệ Trung quốc đạt 1,455 tỷ USD,quý I/2008 đạt 1,682,2 tỷ USD.Sự gia tăng ngoại tệ làm trầm trọng thêm vốn lưu động dư thừa.Sự tăng cao của vốn và giá trị tài sản đã hình thành bong bóng tài sản Trung quốc.Năm 2007,giá bất động sản ở 70 thành phố tăng 7,6%,quý I/2008 tăng 11%.Từ 2005 đến nay chỉ số chứng khoán Thượng Hải tăng cao từ 1.161,06 điểm /2005,2.675,47 điểm/2006,cuối năm 2007 đạt 5,261,56 điểm.Sang quý I/2008 giảm mạnh chỉ còn 2.990,79 điểm giảm 50% so với 2007.

Sau 30 năm tiến hành cải cách,Trung quốc có GDP 3,000.tỷ USD là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới,nhưng tiêu hao 1/5 năng lượng thế giới,sản xuất ra 1/4 sản phẩm thế giới – trong đó có gần 60% sản phẩm Madein China là của công ty nước ngoài sản xuất tại Trung Quốc,nhưng thu nhập quốc dân chỉ chiếm 6% thế giới.Cho đến nay,Trung Quốc chỉ là “Công xưởng làm thuê của Thế giới”,Vì thế lợi nhuận không đáng được bao nhiêu.

Hiện lạm phát Trung Quốc vẫn còn trong giới hạn kiểm soát.Nhưng trong ngắn hạn,nếu không kiểm soát được tốc độ tăng trưởng quá nóng,chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ tăng trưởng từ đầu tư thì lạm phát Trung quốc cũng có thể sẽ ở mức 2 con số.Điều này là tư cơ cấu của nền kinh tế,cũng giống như ở Việt Nam.

Về nguyên nhân lạm phát Việt Nam là có căn nguyên xuất phát từ sự mất cân đối giữa tổng mức đầu tư toàn xã hội và sản lượng hàng hoá dịch vụ không tương xứng.Trong 5 năm từ 2002 – 2006 tổng mức đầu tư xã hội gồm đầu tư Chính phủ,đầu tư nước ngoài,ODA,kiều hối,đầu tư trong nước tăng 130% nhưng giá trị hàng hoá,dịch vụ chỉ tăng 30%.Trong đó đầu tư Chính phủ chiếm trên 50% của tổng mức đầu tư toàn xã hội tương đương 40%GDP.Đây là một tỷ lệ đầu tư cao, chỉ số ICOR là tỷ lệ vốn đầu tư để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá của Việt Nam là 4,4 ,trong khi tỷ lệ này ở các nước trong khu vực là trên dưới 3.Chỉ số này cho chúng ta thấy đầu tư kém hiệu quả tại Việt Nam.

Việc xét duyệt đầu tư từ nguồn Ngân sách nhiều tầng,nhiều cấp,phân tán,nhỏ lẻ ở hầu khắp các địa phương.Một phần không nhỏ các nguồn vốn đã sử dụng sai mục đích đầu tư,tham nhũng,đặc lợi,đặc quyền. Một số doanh nghiệp Nhà nước đã thành lập Ngân Hàng thương mại cổ phần và chuyển một phần vốn từ đầu tư của Chính phủ vào tín dụng Ngân hàng càng đẩy mức lạm phát lên cao và gây tác động ảo sốt giá thị trường bất động sản.

Tại các nước phát triển các tổ hợp công nghiệp – Consortion có Luật cấm không mở Ngân hàng.Một tập đoàn hùng mạnh như Microsft đâu có Ngân hàng?Trong khi một Công ty tiếng là tin học FPT mà nguồn thu chính là buôn điện thoại di động lại mở Ngân hàng,...Chúng ta hãy xem tương lai sự giật gấu vá vai tài chính này sẽ lộ diện ra sao trong cuộc khủng hoảng lạm phát lần này ở Việt Nam.

Hiện tượng chủ đầu tư chiếm dụng vốn của doanh nghiệp trở thành phổ biến làm doanh nghiệp trở thành con nợ khó đòi tăng tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tài chính,tín dụng.Một căn bệnh lạm phát kép đã di căn vào nhiều tổ chức quản lý vốn đầu tư ngân sách, góp thêm phần tăng lạm phát.

Chỉ số PE dự đoán 40% trong năm 2008 có thể chỉ còn 20%.Trong chính sách tiền tệ,dự trữ Ngân hàng Nhà nước đã đạt 4% vào tháng 3/2007,nhưng với việc mua 9 tỷ dollars Mỹ và các Ngân hàng đổ tín dụng vào thị trường bất động sản đã làm dự trữ giảm còn 1% vào tháng 11/2007. Khi đó Ngân hàng nhà nước mới ban hành chính sách tăng dự trữ đã trở thành nghịch lý.

Lượng tín dụng lớn đã đổ ra trong khoảng thời gian ngắn đã thổi căng bong bóng thị trường chứng khoán và bất động sản tăng giá,khi cung vượt quá cầu thì quy luật là quả bóng này vỡ gây ra lạm phát.Về kết quả,đây chính là nguyên nhân lạm phát phi mã 2 con số hiện nay tại Việt Nam.

Như vậy chúng ta có thể dễ dàng nhận ra nguyên nhân chính gây lạm phát cao tại Việt Nam là hoạt động mở rộng tín dụng từ 20% quý I/2006 lên 50% quý IV/2007.Một tỷ lệ tăng lạm phát khác là do các Ngân hàng Thương mại tăng tổng tiền cho vay để đưa dư nợ chứng khoán xuống 3% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước cuối năm 2007. Năm 2007, GDP tăng 8,5%,lạm phát 12,6%.Sang năm 2008,chỉ trong quý I lạm phát tăng 17,2%.Lãi suất tiết kiệm 12% năm hiện là lãi suất âm.Đây là vấn đề nghiêm trọng của cơ cấu nền tài chính – ngân hàng Việt nam phát triển ở trình độ rất thấp với nghiệp vụ chủ yếu là tiết kiệm và tín dụng.Các dich vụ tài chính – Ngân hàng chưa thực sự làm được dịch vụ tài chính và lưu thông tiền tệ thể hiện rõ nhất ở tỷ lệ giao dịch trên 90% bằng tiền mặt trong xã hội hiện nay.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển ở những giai đoạn sơ khai,có những thành công bước đầu.Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước SSC có kế hoạch phát triển thị trường cổ phiếu có giá trị từ 30% ~ 40%GDP.Sau khi ban hành chính sách thuế đối với đăng ký niêm yết cổ phiếu cuối năm 2006,số công ty niêm yết đã tăng từ 192 công ty lên 240 công ty niêm yết năm 2007.Vốn tăng 19 lần lên 13,9 tỷ Dollars Mỹ.Chính phủ dự kiến cổ phần hoá 1600 DNNN đến năm 2010.Số lượng 60 DNNN còn lại sẽ tiếp tục cổ phần hoá đến năm 2015.

Tuy nhiên do cổ phần hoá nội bộ,giao dịch nội gián chứng khoán,cùng với bản chất nền công nghiệp của chúng ta là gia công,tỷ lệ lãi thực dương thấp.... với trình độ dân trí thấp kinh doanh theo phong trào,sự điều tiết thị trường chứng khoán không theo quy luật tài chính tiền tệ - vẫn bằng biện pháp hành chính đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam nặng tính đầu cơ.Chỉ số Vn – Index đã xuống mức 472 điểm vào ngày 25/3/2008.Mức 450 điểm sẽ bị phá đáy có thể chỉ còn trên dưới 400 điểm vào nửa cuối năm 2008,đầu 2009 khi quyết toán tài chính doanh nghiệp bộc lộ các khoản thua lỗ,hoăc lãi suất thấp không đủ khả năng trả lãi cổ tức.Đây là một vấn đề đáng lo ngại vì sự suy giảm thị trường chứng khoán sẽ tác động sang thị trường tín dụng của các Ngân Hàng thương mại.

Trong bài viết”Việt nam 2006 và suy nghĩ về tương lai dân tộc” đăng trên bản tinTrí thức & Phát triển của Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân lực – Nhân tài Việt Nam số 5 tháng 1/2007,tôi có dự đoán khủng hoảng thị trường chứng khoán và tiền tệ Việt nam nửa cuối 2007,khi mà tại thời điểm đó, chúng ta vẫn còn tâm lý lạc quan khi gia nhập WTO đầu năm 2007.” Khi ngư­ời dân rút tiền tiết kiệm để mua chứng khoán làm tụt giảm vốn Ngân hàng Th­ương mại và các Ngân hàng Th­ương mại th­ường xuyên tăng lãi suất tiền gửi,doanh nghiệp lại khó vay tiền Ngân hàng mà vì thế cũng làm sụt giảm lợi nhuận cổ tức của Chứng khoán” – Sự việc được dự đoán sẽ diễn ra vào cuối 2007,đến nay chúng ta đã không cầm cự được và sự diễn biến của các Ngân hàng Thương mại đang như dự đoán.Với lãi suất tín dụng cao trên 12%/ 1 năm như hiện nay của các Ngân Hàng thương mại Việt Nam,các doanh nghiệp không thể vay,trả nợ,khi mà lợi nhuận dòng trung bình nhiều năm của doanh nghiệp chỉ từ 1,8% ~ 8,2%.Chính sách huy động vốn của Ngân hàng một lần nữa đẩy lạm phát tăng cao,có khả năng nhấn chìm sản xuất kinh doanh trong nước sâu hơn nữa.

Sau 2010,dự đoán số lượng Ngân hàng thương mại hiện nay chỉ còn chưa được 50% như hiện nay.Vì vậy để tránh sự sụp đổ dây truyền của Ngân hàng Thương mại,chúng ta nên có kế hoạch ngay từ bây giờ sớm sát nhập để Chính Phủ kiểm soát được lưu thông tiền tệ như là một đối sách chống lạm phát và phòng ngừa rủi ro của hệ thống.Một biện pháp khác để thu tiền từ lưu thông là Chính Phủ cần bán một phần vàng từ dự trữ ra thị trường và mua vào Dollars Mỹ khi đồng VN chưa mất giá.Như dự đoán ở trên,nền kinh tế Mỹ sẽ phục hồi và tăng trưởng nửa cuối năm 2009,quy luật là đồng dollars sẽ tăng giá,vàng giảm giá,dự đoán từ 2012 giá vàng thế giới sẽ trở lại mức dưới $ 500./ 1 uncer.Lúc đó chúng ta sẽ mua được nhiều vàng hơn bây giờ.Về dài hạn,cần tăng dự trữ vàng quốc gia khi tình hình kinh tế Thế giới vào chu kỳ ổn định 2012 ~ 2025.Không loại trừ tác động cuộc suy thoái kinh tế Thế giới tiếp theo sẽ bắt đầu từ suy giảm nền kinh tế Trung Quốc mà tác động đầu tiên là từ năng lượng, lương thực và nhập siêu nguyên liệu.

Như phân tích trên,các khả năng ổn định cần có quyết sách được thực hiện cấp bách trên nguyên tắc phải tuyệt đối chấp hành chỉ thị,quyết định và điều hành của Chính Phủ.Tình trạng quan liêu,sợ trách nhiệm,không tuân thủ nhiệm vụ,quyền hạn được giao của mỗi cán bộ trước tập thể là một ẩn hoạ.Nguy cơ quan liêu,trì trệ của bộ máy quản lý Nhà nước chừng nào đó là đe doạ an nguy số 1 với Quốc gia còn lớn hơn là quốc nạn tham nhũng.

Để chống lạm phát và lành mạnh nền kinh tế Việt Nam cần cơ cấu lại hệ thống bộ máy Nhà nước gọn nhẹ,tập trung,thực sự đề cao trách nhiệm quyền hạn cá nhân lãnh đạo ở tất cả các cấp.Kiện toàn tiêu chuẩn công chức,lương và quyền lợi công chức. Triệt để thực hiện dân chủ,công khai,minh bạch toàn xã hội trong khuôn khổ Pháp luật.Cải cách cơ cấu hành chính – kinh tế theo quy luật,thực hiẹn đúng các cam kết Quốc tế là điều kiện tiên quyết để nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững sau năm 2012.

Về cuộc khủng hoảng lương thực thế giới hiện nay đều có hậu quả từ sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế thế giới thoả mãn với sản lượng lương thực từ sau cuộc cách mạng xanh thập niên 1970 thế kỷ XX ở Châu A.Gần như toàn bộ nền kinh tế Thế giới đã tập trung đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ là nơi đem lại nhiều lợi nhuận,tiện nghi sống văn minh.Nhưng tất cả chúng ta đều quên mất một điều về bản chất nền Công nghiệp – Dịch vụ nhiều tiện ích cũng là một tác nhân chính phân hoá giàu nghèo xã hội và dẫn tới khủng hoảng lương thực toàn cầu do khai thác cạn kiệt năng lương, ô nhiễm,phá hoại môi trường,thay đổi khí hậu,dịch bệnh không thể kiểm soát.

Khác biệt cơ bản của khủng hoảng tài chính là tính chu kỳ,là điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế sẽ phục hồi sau một thời gian không quá 10 năm.Khủng hoảng lương thực là lâu dài,kéo theo nạn đói và bạo loạn.Đặc điểm cuộc khủng hoảng lương thực lần này từ sự huỷ hoại môi trường,khi môi trường tự nhiên bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi và nếu vẫn tiếp diễn sẽ dẫn đến diệt vong của toàn bộ xã hội loài người.Ông Robert Zoellick,người đứng đầu WB đã cảnh báo cuộc khủng hoảng lương thực này gây ra sẽ là khủng khiếp.

Hiện nay,theo số liệu của Liên hiệp quốc cuộc khủng hoảng lương thực đã ảnh hưởng tới 57 quốc gia,trong đó có 6 quốc gia có bạo loạn.số liệu của Ngân Hàng Thế giới - WB cho rằng có 33 nước đang bị đe doạ rơi vào hỗn loạn về chính trị do khủng hoảng lương thực,thực phẩm. Sự bạo loạn do đói gần như là tất nhiên – Chết đói hay bạo loạn để giành gật sự sống! Dự đoán có hơn 1 tỷ người,chủ yếu từ các quốc gia đang phát triển sẽ bị đói và nếu lực lượng này được liên kết lại sẽ tàn phá toàn bộ những gì đã có của toàn bộ văn minh công nghiệp mang lại. Vì vậy khủng hoảng lương thực là vô cùng nghiêm trọng,đe doạ hoà bình,ổn định của toàn Thế giới.

Tại Việt Nam,cũng như tất cả các Quốc gia đang phát triển để duy trì tăng trưởng kinh tế,tích luỹ xã hội là tập trung đầu tư cho công nghiệp – dịch vụ. Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 25,2%GDP năm 1990 lên 41,6 GDP năm 2007,duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm ở mức 7,2%GDP là một thành công lớn của công cuộc Đổi Mới.

Chúng ta đã có thành công lớn trong nông nghiệp nông thôn. Từ một nước nhập khẩu lương thực trong thập niên 80 của thế kỷ XX,Việt nam đã trở thành nước xuất khẩu lúa gạo lớn thứ 2 thế giới. Năm 2007 sản lượng lương thực của chúng ta là 35,9 triệu tấn,xuất khẩu đạt 8,3 triệu tấn. Tuy nhiên theo dự đoán tỷ lệ tăng dân số Việt Nam đến năm 2020 là 98,6 triệu người thì sản lượng lương thực phải đạt tới 39,63 triệu tấn lúa gạo và chỉ có thể xuất khẩu 6,43 triệu tấn,còn lại 33,2 triệu tấn tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên 2/3 dân số vẫn ở nông thôn và làm nông nghiệp.57% trong số 58,8 triệu người vẫn ở nông thôn có thu nhập chính từ nông nghiêp.

Nền kinh tế càng phát triển thì lượng tiêu dùng lương thực càng cao. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ lượng tiêu thụ lương thực trung bình của người Mỹ cao gấp 6 lần người Ân độ. Trung bình một năm người Ân độ ăn hết 178kg lương thực,người Mỹ là 1.046kg/năm,kể lương thực dùng ủ men,nấu rượu.

An, không chỉ là lương thực mà phải có thực phẩm. Theo số liệu ban đầu,để có 1kg thịt gia cầm cần 1,7kg lương thực và 1kg thịt gia súc có sừng cần tới 6,7kg lương thực. Khi cuộc sống được nâng cao,con người có xu hướng dùng nhiều thịt hơn vì vậy khủng hoảng tăng giá thịt gia súc,gia sẽ không dừng ở giá hiện nay tại Việt Nam. Trung quốc,An độ.... mà sẽ lan rộng ra phạm vi toàn thế giới trong vài năm tới.

Về chiến lược ổn định,phát triển lương thực đã được Đảng – Nhà nước triển khai trong nhiều năm,tuy nhiên đầu tư cho Nông nghiệp,nông thôn dưới 20% GDP là quá thấp.Những vấn đề cần đề xuất là chúng ta cần công nghiệp hoá nông nghiệp và đô thị hoá nông thôn theo hướng giữ được bản sắc làng xã Việt Nam.Lấy chiến lược phát triển lương thực,thực phẩm sạch tiêu dùng trong nước và xuất khẩu như một ngành kinh tế chủ đạo của đất nước. Để phát triển bền vững toàn bộ nền kinh tế trước hết bảo vệ môi trường phải đặt lên hàng đầu.trong đó trọng tâm của bảo vệ môi trường là bảo vệ nguồn nước sạch,muốn có nước sạch phải có rừng.

Về nguồn nước,ngoài các nguy cơ ô nhiễm, thu hẹp huỷ hoại dòng chẩy sông suối trên địa vật lý ngay tại Việt Nam còn có một nguy cơ là sự ngăn chặn từ thượng lưu sông Hồng,sông Mê Công của một số quốc gia thuộc tiểu vùng Đông Dương và bắc Đông dương.Chúng ta có nguy cơ bị xâm thực mặt,hoang hoá cả hai vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và đồng bằng châu thổ sông Cửu long.Cần xem lại dự án đô thị Hà nội trên hai bờ sông Hồng của Hàn Quốc.Cần thấy rằng sự phát triển đô thị sông Hàn ở Seuol là hai bên đồi núi,sông Hàn không có lượng phù sa lớn như sông Hồng.Nếu sự xây dựng đô thị Hà nội hai bờ sông Hồng không được nghiên cứu khách quan và chuẩn xác sẽ làm giảm tốc độ dòng chẩy thượng lưu,lắng đọng phù sa gây ra sự phá dòng chẩy lũ lụt ở thượng lưu và khô cạn ở hạ lưu sông Hồng. Chỉ vì lợi ích trước mắt mà lâu dài tàn phá không thể phục hồi cả nền văn minh sông Hồng?

Bảo vệ môi trường,điều cốt tử là phải bảo vệ được nguồn nươc sạch.Muốn giữ được nước,phải giữ được rừng. Dầu lửa trong tương lai gần sẽ được thay thế bằng các nguồn năng lượng khác. Cuộc chiến nửa cuối thế kỷ XXI là cuộc chiến nước sạch.

Để đối phó với khủng hoảng lạm phát và lương thực,kế sách đầu tiên là ưu tiên phát triển nông nghiêp,nông thôn,nông dân để nâng cao sản lượng lương thực.Phát triển công nghệ sinh học phuc vụ nông nghiệp,duy trì các nguồn gien cây trồng,vật nuôi thuần chủng có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam và Thế giới.Khi sinh thời,Giáo sư – Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng có nghiên cứu và chọn ra một số giống lúa chịu khô hạn,chịu rét,trồng khoai tây bằng hạt,...nhưng do sự hạn chế kinh phí và tính đố kỵ khoa học các phát minh này đã không được đưa vào sản xuất đại trà.Trong chiến lược Tam nông,Đảng – Nhà nước cần phục hồi,triển khai vào sản xuất các phát minh này.

Chuyển hoá nền kinh tế tăng trưởng phụ thuộc bằng xuất khẩu sang tăng trưởng bằng tiêu dùng nội địa.Tập trung cho công nghiệp dịch vụ những ngành nghề chúng ta có thế mạnh như sinh học

Chúng ta cần có dự đoán,phân tích các diễn biến như thực tiễn sẽ có trong kế hoạch ngắn hạn cũng như dài hạn cho phát triển Đất Nước.Tại Hội nghị TW Đảng,Chính Phủ,Quốc hội đều phê phán và công nhận sự yếu kém về dự đoán của một bộ phận chuyên gia trong công tác quản lý Nhà nước.Nhưng chúng ta không thấy được bản chất của vấn đề là chúng ta thiếu sự mở rộng dân chủ trong trưng cầu ý kiến của Nhân dân trong hoạch định chính sách mà nguyên nhân vẫn là bệnh học vị,bằng cấp,lý thuyết suông của không ít chuyên gia không từng qua thực tế quản lý sản xuất kinh doanh lại được giao cho làm kế hoạch,chính sách kinh tế !Căn bệnh có từ hệ thống kế hoạch hoá,tập trung quan liêu bao cấp.

Hà nội,ngày 25/4/2008

Nguồn:  Văn phòng TW Hội
Số lượt đọc:  642  -  Cập nhật lần cuối:  30/05/2008 08:16:02 AM