Phan Bội Châu (tên cũ là Phan Văn San), hiệu là Hải Thụ, sau lấy hiệu là Sào Nam, sinh ngày 26-12-1867, quê ở Đan Nhiễm ( nay là Xuân Hoà, Huyện Nam Đàn, Nghệ Tĩnh).
Lúc nhỏ ông nổi tiếng thông minh. Sáu tuổi đã thuộc hết tam tự kinh, bẩy tuổi đã hiểu kinh truyện, tám tuổi đã làm thông thạo các loại văn cử.
Năm 19 tuổi, hưởng ứng chiếu Cần Vương của Hàm Nghi ông về tổ chức một đội thí sinh quân gồm 60 người lên đường ứng nghĩa nhưng việc không thành. Mười năm tiếp đó Phan Bội Châu làm ông đồ dạy học. Năm 1890, ông đỗ thủ khoa trường dạy nghề và chính thức bước vào con đường cách mạng. Ông lập ra Hội Duy Tân (1904) chủ trương bạo động và nhờ ngoại viện để khôi phục nền độc lập. Ông viết nhiều tác phẩm tuyên truyền về cách mạng như : Việt Nam vong quốc sứ, hải ngoại huyết thư…
Ngoài việc lãnh đạo phong trào Đông Du, ông còn lập ra các hội có tính chất đoàn kết quốc tế giúp nhau chống lại bọn đế quốc như: Điềm, Quế, Việt liên minh, Đông á đồng minh. Tháng3-1909, tổ chức Đông Du bị giải tán và Phan Bội Châu bị chính phủ Nhật trục xuất. Phan Bội Châu lại trở về Trung Quốc và thành lập Việt Nam quốc phục hội mà tôn chỉ duy nhất là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hoà dân quốc Việt Nam.
Sau những hoạt động yêu nước, ông bị thực dân Pháp nhờ bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24-12-1913.
Năm 1917, Phan Bội Châu ra tù, cách mạng tháng Mười Nga và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã ảnh hưởng đến Phan Bội Châu. Tháng 12-1924, Phan Bội Châu dự định sẽ cải tổ lại Việt Nam quốc dân Đảng theo hướng tiến bộ nhất nhưng ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại ga Thương Hải đem về nước. Một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị rầm rộ khắp cả nước. Trước tình hình đó thực dân Pháp phải tuyên bố tha bổng Phan Bội Châu nhưng thực chất ông bị giam lỏng từ năm 1926 ở bến Ngự. Đến đây cuộc đời hoạt động cách mạng nguyện hiến dâng tất cả cho tổ quốc của Phan Bội Châu phải bỏ dở. Phong trào cách mạng của Việt Nam theo đà phát triển mới của lịch sử tiến lên như vũ bão. Tại Huế Phan Bội Châu vẫn làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân đối với nước…Các tác phẩm ông để lại là những áng văn thơ hào hùng và bất hủ. |