(1765 - 1820)
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Ông sinh trưởng trong một gia đình quý tộc có thế lực vào bậc nhất ở Thăng Long, tuổi ấu thơ của Nguyễn Du đã trôi qua trong vàng son nhung lụa. Sau khi cha mẹ mất, ông sống trong nhà Nguyễn Khản (anh cùng bố khác mẹ) cũng là một người tài hoa phong lưu rất mực ở kinh kỳ. Về sau, xảy ra tai biến với Nguyễn Khản, Nguyễn Du rời Thăng Long bắt đầu nếm trải cuộc sống phong trần: làm quan võ ở Thái Nguyên, về quê vợ ở Thái Bình, sau đó trở về quê cha ở Nghệ An, rồi lại vào Gia Định theo Nguyễn ánh, bị quân Tây Sơn bắt giam 3 tháng, sau đó ông trở về Tiên Điền cho đến khi Nguyễn ánh giành được ngai vàng, ông lại ra làm quan nhà Nguyễn. Từ đây con đường quan chức của ông bắt đầu thăng tiến. Từ tri phủ huyện Phù Dung, đến tri phủ Thường Tín rồi lên Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc, sau đó lại được phong Đông Các học sĩ, làm Giám hộ thi hương ở Hải Dương, làm Cai bạ Quảng Bình rồi thăng lên hàng Chánh sứ đi Trung Quốc.
Ông mất đột ngột ngày 10/8/1820 khi chưa kịp đi sứ Trung Quốc lần hai. Tác phẩm ông để lại gồm: “Thanh Hiên Thi tập”, “Thác lời trai phường nón”, “Văn tế sống hai cô gái Trường Lu”, “Nam trung tạp ngâm”, “Truyện Kiều ”, “ Bắc hành tạp lục ”, “ Văn chiêu hồn ”.
Nhắc đến Nguyễn Du người ta nghĩ ngay tới Truyện Kiều, một kiệt tác thơ Nôm mà ông đã dành nhiều tâm huyết để tạo nên. Tuy nhiên, Truyện Kiều quá hay, quá nổi tiếng đến nỗi làm cho người ta quên đi một mảng sáng tác khác cũng không kém phần giá trị. Đó là những sáng tác bằng chữ Hán viết về Thăng Long. Với mảnh đất này ông để lại cho hậu thế những vần thơ hiếm có. Nguyễn Du viết về Thăng Long không nhiều nhưng rải rác trong Thanh Hiên thi tập, Bắc hành tạp lục, Nam trung Tạp ngâm đều có hình ảnh Thăng Long. ở đó không chỉ có chuyện đời dâu bể của xã hội thị dân trải nhiều biến cố mà còn trực tiếp bộc lộ những cảm xúc và tâm trạng riêng của nhà thơ.
|