Ông sinh ngày 12 - 3 năm Đinh Tỵ (897) ở Đường Lâm. Ngô Quyền là một người khôi ngô, trí dũng nên tuy còn trẻ đã nổi tiếng trong vùng.
Ngô Quyền là rể quý của Dương Diên Nghệ. Dương Diên Nghệ là người đánh dẹp quân Nam Hán chiếm được Đại La năm 931. Ông cử Ngô Quyền cai quản xứ Thanh. Năm Mậu Tuất, Dương Diên Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại và cướp ngôi. Để đối phó với tình thế, lo sợ sự phản công của Ngô Quyền, Kiều Công Tiễn cho người sang cầu cứu vua Nam Hán. Nắm được cơ hội, vua Nam Hán phong tước cho thái tử Hoằng Thao, đem quân sang đất Giao Châu.
Nhận được hung tin, Ngô Quyền sau khi làm lễ phát tang, cùng em vợ là Dương Tam Kha kêu gọi binh sĩ và được sự hưởng ứng của tất cả mọi người.
Mùa đông năm 938 đại quân của Ngô Quyền quyết định vây thành Đại La, đột phá cổng thành, bắt Kiều Công Tiễn, lên án kẻ phản bội rồi chém đầu. Trong khi đó, quân Nam Hán bàn thảo kế hoạch tiến công.
Tháng 12 năm 938, Ngô Quyền áp dụng chiến thuật vừa đánh vừa nhử, một mặt cho quân sĩ cắm cọc nhọn bịt sắt dưới lòng sông Bạch Đằng, một mặt cho thuỷ quân dùng thuyền nhẹ ra vịnh Hạ Long khiêu chiến rồi rút dần vào cửa sông Bạch Đằng. Hoằng Thao cho chiến thuyền đuổi theo, đợi khi thuỷ triều xuống, quân sĩ của Ngô Quyền mai phục hai bên bờ sông tung ra xung trận, thuỷ quân Nam Hán hoảng hốt quay thuyền tháo lui, bị cọc sắt đâm thủng, quan quân rối loạn, hàng ngũ tan rã, Hoằng Thao bị giết, máu quân Nam Hán loang đỏ dòng sông.
Chiến thắng lẫy lững của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng với quân ngoại xâm ghi lại chiến tích hào hùng cho trang sử, đem lại quyền tự chủ của dân tộc sau 11 thế kỷ bị Bắc thuộc.
Năm Kỷ Hợi 939, Ngô Quyền xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.
Ngô Quyền làm vua được 6 năm, qua đời ngày 18 tháng giêng năm Giáp Thìn (944), thọ 47 tuổi. Đền thờ Ngô Vương được lập ở Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Tây. |