Ông họ Ngô, tên Tuấn, người Làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, Gia Lâm, Hà Nội), con của Sùng Tiết Tướng Ngô An Ngữ.
Ông là người tuấn tú, thông minh, có chí khí, thích nghề võ. Năm 20 tuổi, Ngô Tuấn tự hiến thân để được làm trong cung vua, 22 tuổi giữ chức “Hoàng môn chi hậu” trong quân túc vệ… Khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi, Ngô Tuấn được phong là Thái Bảo, Cầm “Tiết Việt”, đi thanh tra các quan ở vùng Thanh – Nghệ. Năm 1069, ông được cử làm tướng tiên phong, lập công lớn, vua phong Phụ quốc Thái úy, tước Khai Quốc công và ban cho họ Lý (do đó có tên là Lý Thường Kiệt). Lúc đó ở Trung Hoa, vua nhà Tống tìm cách xâm lược Đại Việt. Ông đã đề ra chiến lược: “ra tay trước, chế ngự địch” nhằm hạ khí thế địch. Năm 1075, ông đem 10 vạn quân chia làm hai đạo đánh sang đất Tống, sau khi hạ thành Ung Châu, ông rút quân về tổ chức phòng thủ tại nước nhà.
Năm 1077, 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy tràn sang Việt Nam. Ông cho lập phòng tuyến sông Như Nguyệt chặn giặc rồi cho thuỷ quân đánh bại giặc ở vùng biển Quảng Ninh. Giặc Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở Phía Nam sông Như Nguyệt, giả làm thần đọc vang bài thơ, sau này được coi như “Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của Việt Nam:
Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Nhờ thế tinh thần binh sĩ thêm hăng hái. Thời cơ đến, ông cho binh sĩ vượt sông đánh vào trại giặc. Tiếp đó, ông cho người sang nghị hoà, Quách Quỳ đồng ý và vội vã rút quân về. Sau chiến thắng, Lý Thường Kiệt lo việc nội trị, sửa đổi bộ máy hành chính trong cả nước. Vua Lý nhận ông làm em nuôi. Những năm cuối đời, ông còn cầm quân đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (1103), dẹp giặc Chiêm quấy nhiễu ở Bố Chính (1104), tổ chức lại bộ máy quân đội.
Ông được lịch sử ghi nhận là anh hùng kiệt xuất, một con người hiến dâng cả tâm hồn, sức lực cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ.
|