 Ngày 07/11/2006 tại trụ sở Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ở Genever, Thụy Sỹ đã làm lễ kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức thứ 150 của WTO. Trước đó, ngày 25&26/10/2006 Việt Nam đã hoàn tất quá trình đàm phán cuối cùng kết thúc 11 năm thương lượng. Để gia nhập WTO, khó khăn lớn nhất của Việt Nam là đàm phán song phương với Hoa Kỳ trải qua tới 12 vòng. Tháng 5/2006 vòng đàm phán cuối cùng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tại Geneve vẫn rất khó khăn, dự kiến hai ngày nhưng sau đó kéo dài bốn ngày, hai ngày cuối phải thức suốt đêm để đàm phán.
Tại kỳ họp ngày 09/12/ 2006, Quốc hội Mỹ đã thông qua Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn PNTR với Việt Nam, ngày 21/12/2006, Tổng thống Mỹ George W. Bush đã ký phê chuẩn Quy chế này. Với uy thế ngày càng cao trên trường Quốc tế, Việt Nam chính thức được các nước Châu á đề cử là ứng cử viên duy nhất vào Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ thiên tài của Dân tộc Việt Nam đã tiên đoán khi mới thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. “… Việt Nam ngày càng tham gia nhiều hơn, rộng hơn vào Quốc tế dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc… ”(Hồ Chí Minh Toàn tập).
Gia nhập WTO là thời cơ và vận hội lớn nhất của Lịch sử Việt Nam để duy trì tăng trưởng kinh tế và thoát khỏi danh sách các nước nghèo nhất Thế giới vào năm 2020. Trong các câu trả lời phỏng vấn của người dân trên truyền hình VTV1 sau khi Việt Nam gia nhập WTO có người đã nói một cách giản dị như một chân lý: “Tham gia WTO chắc là tốt vì tôi thấy chỉ xin vào chứ không thấy ai xin ra cả!”
Năm 2006, nhìn lại Công cuộc Đổi Mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo vừa tròn 20 năm, một khoảng thời gian không dài với một đời người, rất ngắn trong Lịch sử phát triển của một Dân tộc, nhưng những thay đổi vượt lên phồn vinh của Việt Nam làm Thế giới ngạc nhiên, khâm phục. Từ một Quốc gia bị chiến tranh 30 năm tàn phá, nghèo nàn và lạc hậu với nền kinh tế tiểu nông, bao cấp, kinh tế gần như dựa hẳn vào Liên Xô trước đây, thiếu đói thường xuyên phải nhập gạo. Sau khi tiến hành Công cuộc Đổi Mới, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 Thế giới. Nếu năm 1989, xuất khẩu gạo mới là 1.425.000 tấn gạo và đạt kim ngạch 321 triệu Dolla Mỹ thì năm 2005 xuất khẩu 5.200.000 tấn gạo đạt kim ngạch 1.407 triệu Dolla Mỹ, năm 2006 xuất khẩu 4.500.000 tấn gạo và đạt kim ngạch 1.237 triệu Dolla Mỹ ( số liệu tháng 9/2006).
Trong chính sách Kinh tế, Việt Nam thực hiện “Thay thế nhập khẩu với hướng dẫn xuất khẩu”. Xuất khẩu đã hình thành 5 loại sản phẩm chính là Dầu thô, Gạo, Thuỷ sản, Café, Than đá. Năm 2003 tổng kim ngạch đầu tư toàn xã hội đạt 13,6 tỷ USD trong đó đầu tư trong nước chiếm 83,2%. Năm 2004 tổng đầu tư toàn xã hội đạt 16 tỷ USD, vốn đầu tư trong nước chiếm 68%, vốn đầu tư nước ngoài chiếm 32%. Tính đến 20/12/2005 Việt Nam đã thu hút được 5.918 dự án đầu tư nước ngoài có tổng kim ngạch đầu tư theo Hợp đồng là 50,535 tỷ USD, thực hiện là 26,963 tỷ USD.
Kinh tế Tư nhân đã có bước phát triển và dần trở thành một trong những động lực của nền Kinh tế nước nhà, năm 2003, đầu tư tư nhân đạt 3,6 tỷ USD tăng 24,7% so với cùng kỳ năm 2002, đầu tư nước ngoài tăng 5,8%. Năm 2004 tổng giá trị sản xuất Công nghiệp đạt 22,1 tỷ USD tăng 16% so với 2003 trong đó Doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,8%, doanh nghiệp tư nhân tăng 22,8%, doanh nghiệp vốn nước ngoài tăng 15,7%. Năm 2005 tổng giá trị sản xuất công nghiệp Việt Nam đạt 26,3 tỷ USD tăng 17,2% so với năm 2004 trong đó Doanh nghiệp Tư nhân tăng 14,1%, doanh nghiệp nước ngoài tăng 20,9% và doanh nghiệp nhà nước tăng 8, 7%. Tổng số Doanh nghiệp Tư nhân đã có là 170.000. Doanh nghiệp đóng góp 46% GDP và tạo ra hơn 8 triệu việc làm. Dự kiến GDP năm 2006 của Việt Nam vượt mức 60 tỷ Dolla Mỹ, thu nhập bình quân 640USD/người/năm. Xuất khẩu 2006 đạt giá trị 39,6 tỷ USD tăng gấp 40 lần năm đầu tiên của Công cuộc Đổi Mới. Đã có 9 nhóm hàng xuất khẩu vượt kim ngạch 1 tỷ USD, trong đó có 3 nhóm hàng xuất khẩu là dầu thô, dệt may và giày dép có kim ngạch trên 3 tỷ USD.
Với chính sách khuyến khích và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, Quốc Hội và Chính phủ đã thông qua Luật Đầu tư thống nhất và Luật doanh nghiệp thống nhất 2005 tạo một môi trường đầu tư và kinh doanh bình đẳng trong một môi thường cho mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tại Việt Nam
Năm 2006 đã có những đột phá về FDI, đầu tư nước ngoài FDI đạt 10, 200 tỷ Dolla Mỹ tăng 57% so với cùng kỳ, cho đến nay tổng vốn đầu tư vào Việt Nam là 57 tỷ Dolla Mỹ và đang có xu hướng bùng nổ sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Đã có những Dự án lớn về đầu tư công nghệ cao của INTEL vào Việt Nam trị giá 1 tỷ USD, Walter Blocker, Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ đã nói: “Quyết định đầu tư của INTEL vào Việt Nam chính là con dấu bảo đảm bằng vàng xác nhận Việt Nam là điểm đầu tư có đẳng cấp của Thế giới”.
Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam vừa qua đã cam kết tài trợ ODA mức cao kỷ lục 4,450 tỷ USD cho năm tài chính 2007 của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức cao 8,4% GDP năm 2005 và sang năm 2006 trong cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, GDP Việt Nam vẫn đạt mức tăng 8, 2% đứng thứ 2 Thế giới về tăng trưởng kinh tế.
Việt Nam đã trở thành “ Ngôi sao đang lên” về Đầu tư của Thế giới như bình luận của nhiều Chuyên gia Kinh tế Thế giới. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang rút vốn đầu tư từ một số nước khác đầu tư sang Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu đầu tư của các Doanh nghiệp nước ngoài, Việt Nam đang xúc tiến xây dựng thêm 100 khu công nghiệp từ 2006 đến 2010.
Với dân số Việt Nam với 84 triệu dân đã duy trì nhiều năm tỷ lệ Dân số trẻ dưới 27 tuổi chiếm 60% tổng dân số của cả nước. Người Việt Nam có đức tính thân thiện, độ lượng, cần cù, siêng năng, thông minh và khéo léo làm cho lực lượng lao động Việt Nam hơn hẳn các nước trong khu vực, đặc biệt trong lĩnh vực chế tạo. Nhiều khảo sát, phân tích và đánh giá của chính các Nhà đầu tư Nhật Bản coi lao động Việt Nam không thua kém lao động Nhật Bản trong các lĩnh vực cần trình độ và tay nghề cao.
Báo cáo về bình đẳng giới 2007 của UNICEF công bố ngày 11/12/2006 xếp Việt Nam là nước đứng đầu Châu á về bình đẳng giới. Việt Nam cung cấp tốt về dịch vụ y tế và giáo dục cho trẻ em gái và trai. Tỷ lệ nhập học giữa các em trai là 97% và em gái là 91% giai đoạn 2000 – 2005. Tham gia vào kinh tế trong độ tuổi 15 đến 60 có Nam là 85% và Nữ 83%. Tuy vậy vẫn còn tồn tại bất bình đẳng trong gia đình, bóc lột phụ nữ qua mại dâm và mù chữ ở tỷ lệ cao ở phụ nữ dân tộc thiểu số.
Nếu năm 1990 số người có thu nhập dưới 1USD chiếm tới 51% dân số thì sau gần 20 năm Đổi Mới đã thu hẹp chỉ còn 8% được Liên Hiệp quốc đánh giá cao về xoá đói giảm nghèo của Việt Nam đứng đầu Thế giới. Về giáo dục, có tới 91% dân số biết chữ là một tỷ lệ cao đối với các nước đang phát triển. Y tế đã có mạng lưới y tế đến cấp Xã, đặc biệt rất ấn tượng là hệ thống y tế dự phòng, tiêm chủng mở rộng vacxin đã hạn chế nhiều dịch bệnh ở người. Sự khống chế dịch SARS và hạn chế dịch cúm H5N1 thể hiện sự thành công của Việt Nam được tổ chức y tế Thế giới lấy làm mô hình để phòng chống cúm gia cầm trên phạm vi Thế giới.
Việt Nam là một Quốc gia thống nhất suốt từ Bắc vào Nam với một ngôn ngữ chính là tiếng Kinh. Tại Việt Nam giữ vững được ổn định chính trị sau nhiều cuộc chuyển giao thế hệ các Nhà Lãnh đạo Đất Nước là một thành công lớn được Quốc Tế đánh giá cao. Cũng trong mấy tháng đầu năm 2006, Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công tốt đẹp, những vị Lãnh đạo thuộc lứa tuổi đầu thế hệ Lãnh đạo thứ 3 đã chuyển giao quyền lực cho những Vị Lãnh đạo có tuổi đời thuộc hàng cuối thế hệ thứ 3 và một số người thuộc thế hệ Lãnh đạo thứ 4.
Sự thành công này có tính chiến lược tạo ra ổn định chính trị, duy trì tăng trưởng kinh tế, là một trong những động lực chính yếu đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn, rộng hơn vào Thế giới như lời phát biểu(tóm tắt)của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết ngày 27/6/2006 : “… Ưu tiên hàng đầu của chúng ta là giải quyết có hiệu quả các vấn đề Kinh tế - Xã hội, tăng cường An ninh - Quốc phòng, mở rộng quan hệ đối ngoại, tích cực hội nhập Thế giới, để đạt được mục tiêu trên phải tập trung cải cách Hành chính”.
Cải cách Hành chính giai đoạn 2 cần tiêu chuẩn hoá hệ thống Công chức Nhà nước vì một Nhà nước không có gì khác là Công chức. Phải có chương trình thi tuyển Công chức khách quan và công bằng bằng máy tính như kiểu thi TOEF của Mỹ, công khai đấy nhưng đạt từ 600 điểm trở lên phải có thực tài, không “CHAY” được.
Hiện tại chúng ta không phải không có những Công chức giỏi, mẫn cán, mà do chế độ Lao động – Tiền lương và thiếu trọng dụng công bằng. Chế độ lương Công chức sau cải cách Hành chính phải đảm bảo đủ nuôi sống ở mức khá giả một gia đình 4 người, được bán nhà, bán xe ôtô trả góp trừ dần vào lương suốt đời, nếu vi phạm mất hết. Chính Phủ cần có chính sách Tiền lương, Phúc lợi xã hội, Nhà ở Công chức.
Một người Công chức sau Cải cách Hành chính giai đoạn 2 có đủ năng lực làm thành thạo nhiều kỹ năng công vụ, không như hiện nay một người chỉ làm được một việc mà ngay cả một việc thực hiện cũng không đảm bảo chất lượng. Nếu thực hiện được, số lượng Công chức Nhà nước sau Cải cách Hành chính giai đoạn 2 sẽ chỉ còn 1/3 so với tổng số Công chức hiện nay. Nạn tham nhũng sẽ được hạn chế ở mức thấp nhất, việc thực thi Công vụ, Pháp Luật cũng không còn phiền hà như hiện nay.
Những điều tra về xã hội học và kinh tế học của nhiều Chuyên gia trong nước và Nước ngoài cho thấy trong Kinh tế – Xã hội của chúng ta còn ẩn chứa nhiều Nghịch lý. Hậu quả tất yếu về tàn dư của sự quá độ từ nền Kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, duy ý chí sang nền Kinh tế Thị trường có định hướng Xã hội chủ nghĩa. Có rất nhiều vấn đề mà trong đó vấn đề dự thảo, trình duyệt và phê chuẩn Dự án Luật thể hiện khá rõ. Chúng ta đã nhận thấy có không ít văn bản Pháp luật ngay sau khi phê chuẩn, ban hành đã phải điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi. Sở dĩ có tình trạng này xuất phát từ nhiều cán bộ, chuyên gia được phân công lập và trình Dự án Luật chưa từng trải qua thực tiễn về quản lý Kinh tế – Xã hội nên thiếu những cảm nhận chi tiết sự diễn biến phức tạp, những biến thiên về các Pháp quy, về Chế Tài, Chế định khi đưa Pháp Luật thực thi trong đời sống xã hội.
Những năm qua, việc trình duyệt Dự án Luật để Quốc Hội Phê chuẩn đã có nhiều cải tiến, cố gắng. Song tính chuyên nghiệp của các Uỷ Ban chuyên trách và vị thế của Uỷ Ban Thường vụ Quốc Hội chưa được bổ sung ngang tầm Hội nhập WTO nên các kỳ họp Quốc hội còn dài, bận vào Dự án Luật, chưa tập trung vào quyền giám sát và kiểm tra thực thi Pháp Luật về quản lý Nhà nước của các Cơ quan Hành pháp. Đây là một trong những nguyên nhân làm tình trạng khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện vượt cấp và tồn đọng một số bất đồng xã hội giữa quyền lợi Người Dân và cơ quan Công quyền trong hành lang Pháp Luật.
Tôi thấy rằng chúng ta cần nghiên cứu một quy trình lập Dự án Luật có sự phối hợp giữa các Công chức và Chuyên gia, các Nhà Quản lý Doanh nghiệp được mời từ các Ngành Kinh tế - Xã hội. Sau khi đã hoạt chỉnh giai đoạn 1 Dự án Luật cần được công bố trên Thông tin đại chúng lấy ý kiến Nhân Dân. Đây là vấn đề hết sức quan trọng để Pháp Luật thực sự là Quy tắc ứng xử và phân chia quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm giữa Nhà nước và Nhân dân. Sau đó tổng hợp ý kiến góp ý, xây dựng Pháp Luật để bổ sung và lập lại Dự án Luật để các Uỷ Ban(Hoặc Tiểu Ban) chuyên trách của Quốc hội và Cơ quan chuyên trách của Chính Phủ xem xét, hoàn thiện trình lên Uỷ Ban Thường vụ Quốc Hội thông qua và Chủ Tịch Nước phê chuẩn ban hành.
Một Quốc gia phát triển Kinh tế, giữ vững nền Độc lập - Tự do của Nước nhà cần có sức mạnh Quốc phòng và hệ thống an ninh đủ mạnh.
Việt Nam có bờ biển dài 3. 260Km với hơn 2600 đảo. Mối đe doạ chủ yếu là từ biển. Hiện nay 85% vận tải hàng hoá Bắc - Nam là vận tải biển, dọc bờ biển nước ta có 119 cảng, do lạc hậu về phương tiện, bến bãi, kho cảng nên công suất 119 cảng năm 2004 chỉ đạt 127 triệu tấn hàng hoá, chưa bằng 50% lượng hàng hoá của cảng Thượng Hải - Trung Quốc. Chính phủ đã có kế hoạc đầu tư tăng cường năng lực cảng biển lên 265 triệu tấn vào năm 2010. Mặt khác để bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển, đến năm 2015 Việt Nam sẽ hoàn thành hiện đại hoá Hải quân trở thành cường quốc Hải quân Khu vực Đông Nam á, có thể tiến tới là cường quốc Hải quân Châu á trong thế kỷ XXI góp phần quan trọng vào ổn định Hoà Bình Khu vực.
Tôi cho rằng sau 50 năm nữa, khi nhìn lại ngày hôm nay, chúng ta mới thấy hết sự Lãnh đạo sáng suốt của TW Đảng Cộng sản Việt Nam được hun đúc bởi truyền thống yêu nước, đại đoàn kết của người Việt Nam trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có hướng đi đúng trên bước ngoặt của Lịch sử đầy biến cố, kịch tính của đêm trước khi Nước ta trở thành một Quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiến tới là một cường quốc Khu vực và Châu á. Tuy nhiên khi Hội nhập hoàn toàn Thế giới vào đầu năm 2007, nền kinh tế chúng ta cũng gặp những thách thức và trong quá trình vận hành nền kinh tế chuyển đổi quá độ sang kinh tế Thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa cũng chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn.
Trước hết là hệ thống Tài chính – Ngân hàng đang được cơ cấu lại, sự quá cầu toàn lo ngại nợ xấu nhưng lại không có đủ thông tin phân tích thị trường của các Ngân hàng Thương mại đã gây ra trì trệ, phức tạp của quá trình cung ứng vốn cho Doanh nghiệp làm mất nhiều cơ hội kinh doanh, trong khi sang năm 2007 đồng Việt Nam(VNĐ) có xu hướng tăng giá do các nguồn vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều. Sự tăng trưởng quá nóng, do có mầu sắc phong trào và đầu cơ của Thị trường chứng khoán Việt Nam trên một nền sản xuất gia công với tỷ lệ lãi thực dương rất khó xác định, đã có lúc giá trị một số cổ phiếu tăng từ 40 lần đến 70 lần so với giá sàn. Khi người dân rút tiền tiết kiệm để mua chứng khoán làm tụt giảm vốn Ngân hàng Thương mại và các Ngân hàng Thương mại thường xuyên tăng lãi suất tiền gửi để cạnh tranh thu hút tiền gửi, doanh nghiệp lại khó vay tiền Ngân hàng mà vì thế cũng làm sụt giảm lợi nhuận của Chứng khoán. Vòng luẩn quẩn này chứa đựng một nguy cơ làm rối loạn lưu thông tiền tệ. Vì vậy cần có đối sách để phòng ngừa sự cố sụt giảm đột ngột của Thị trường chứng khoán và chỉ số VN Index nửa cuối năm 2007. Nếu xảy ra, đây sẽ là sự trả giá của tình trạng thiếu thông tin thị trường và tính không chuyên nghiệp, sự đầu cơ của phong trào chứng khoán Việt Nam.
Một nghịch lý cố hữu cung cầu của trào lưu kinh tế thị trường nước ta là khi “Sốt” lên một loại hàng hoá dịch vụ thì tranh nhau mua vào ở giá đỉnh và khi giảm “sốt” lại tranh nhau bán ra ở giá đáy. Hệ thống Ngân hàng Thương mại cũng bị chi phối bởi tâm lý này, khi thị trường bất động sản nóng thì cho vay, khi giảm và trầm lắng với mức giá hợp lý để đầu tư sinh lãi lại không cho vay. Chúng ta đều biết đầu tư để hoàn vốn và sinh lãi trong kinh doanh bất động sản phải mất từ 5 năm tới 10 năm và phải đầu tư khi Bất động sản ở giá thấp nhất. Nền Kinh tế của chúng ta phát triển từ một mức rất thấp ở những thập kỷ 80 của Thế kỷ XX so với Thế giới, cơ sở hạ tầng và vật chất đã được xây dựng nhưng vẫn ở quy mô thấp và ở cấp độ địa phương, chúng ta còn cần đầu tư từ 60 tỷ USD đến 80 tỷ USD cho cơ sở hạ tầng hiện đại trên toàn lãnh thổ để Nước ta bước vào ngưỡng cửa Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá vào năm 2020 nên trong 30 năm tới chưa thể sẩy ra sự sụp đổ của Thị trường Bất động sản khi mà GDP chưa vượt qua mức bình quân 15.000USD/1người.
Trong 10 năm tới, chúng ta vẫn là một nước Nông nghiệp với 70% dân số ở nông thôn. Cần điều chỉnh lại tỷ lệ vốn đầu tư cho Nông nghiệp, với 20% tổng đầu tư xã hội của Nông nghiệp những năm vừa qua là quá thấp. Gần 58,8 triệu Nông dân hiện còn nhiều khó khăn, số người nghèo chủ yếu tập trung ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa,... là mối lo cho sự an nguy của Chế độ. Phát triển Nông thôn về thực phẩm sạch, lương thực sạch là một thế mạnh của Việt Nam với Thế giới. Cơ giới hoá Nông nghiệp và hiện đại hoá Nông thôn sẽ là Thị trường tiêu thụ lớn, là nội lực kinh tế không để nước ta phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Nông thôn phát triển giữ được rừng, giữ được nước sạch, bảo vệ môi trường, đô thị hoá nông thôn để người nông dân ở lại nông thôn, cung cấp nguồn Nhân lực có kỹ năng lao động - Động lực chính yếu của Quốc gia. Đây chính là sự phát triển bền vững kinh tế xã hội và cũng là thế mạnh cho phát triển nguồn nhân lực.
Về Khoa học và Công nghệ, cần tập trung vào Công nghệ và Công nghiệp tin học, sinh học phù hợp với khả năng tư duy của người Việt Nam. Do nước ta có nhiều vùng khí hậu và hệ gien phong phú nên phát triển công nghệ sinh học ở mức cao sẽ là thế mạnh của Việt Nam với Khu vực và Thế giới. Sinh học có ứng dụng rộng lớn và dự đoán công nghệ sinh học sẽ hợp nhất với công nghệ điện tử, tin học để trở thành công nghệ điều khiển là công nghệ mũi nhọn của các Thế kỷ tiếp theo. Sinh học phát triển còn là tác nhân chủ yếu cho nguồn thuốc chữa bệnh và cho Quốc phòng - An ninh phòng chống chiến tranh sinh học. Tác chiến lazer, điện tử sinh học bảo vệ nguyên vẹn của cải, cơ sở vật chất, vì vậy vũ khí lazer và điện tử sinh học sẽ là kỹ thuật tác chiến chính trong tương lai. Vũ khí hạt nhân sẽ lùi vào dĩ vãng và chỉ tồn tại như là nguồn năng lượng sạch.
Hiện tại công nghiệp của ta chỉ làm phần ngọn, nghĩa là gia công lắp ráp những thứ bán thành phẩm người khác đã làm từ dệt may, da giầy, kể cả công nghiệp tầu thủy vì nhiều bí quyết quản lý, thiết kế, tư vấn, sinh hoá và luyện kim,…ta không có khả năng nắm giữ trong tương lai gần.
Cần chú trọng phát triển kinh tế Dịch vụ, vì đào tạo kinh tế dịch vụ ở nước ta gần như không được tổ chức, đào tạo, mang tính tự phát cao, mà có thì lại không đạt được trình độ khu vực và Quốc tế. Lĩnh vực kinh tế dịch vụ rất rộng từ tài chính, ngân hàng, tư vấn đến bán hàng, tiếp thị, chăm sóc trẻ em, người già,…Cần tổ chức ngay các trường đào tạo Kỹ thuật dịch vụ theo giáo trình quốc tế. Như vậy ta có nguồn Nhân lực kỹ thuật cao phục vụ cho trong Nước và Xuất khẩu, một thế mạnh của Việt Nam.
Gốc của mọi vấn đề phát triển bền vững của bất cứ Quốc gia nào đều phải từ Y tế, Giáo dục. Việc này bàn nhiều và không mấy cải tiến. Giáo dục cũng là một trong nhiều vấn đề gây bất bình, không yên trong Nhân Dân. Tôi có kiến nghị nên đưa hẳn chương trình Giáo dục tiên tiến của Thế Giới vào Việt Nam. Thời thuộc Pháp đã đưa hoàn toàn hệ Giáo dục Pháp vào Việt Nam. Chính hệ thống Giáo dục này đã đào tạo ra một thế hệ các Lãnh tụ và Trí thức, Văn Nghệ sỹ lớn của Viêt Nam thế kỷ XX. Trong Y tế, Giáo dục cần đẩy mạnh hơn nữa thực hiện xã hội hoá một bộ phận của y tế, giáo dục. Nhà nước tập trung vào y tế dự phòng, khám chữa bệnh cho người có thu nhập thấp qua bảo hiểm y tế và đảm nhiệm đầu tư phổ cập giáo dục trung học Phổ thông toàn dân làm cơ sở phát triển bền vững nguồn nhân lực. Lĩnh vực khám, chữa bệnh tiện nghi cao, đào tạo dạy nghề, đào tạo Đại học và trên Đại học đưa vào xã hội hoá có thu thuế cấp bù cho giáo dục và y tế do Nhà nước bao cấp.
Một nền Kinh tế mạnh cần có một hệ thống Quốc phòng, An ninh chuyên nghiệp. Chúng ta vừa phát triển chính sách Quốc phòng toàn dân vừa cần chuyên nghiệp hóa quân đội bằng hệ thống Hợp đồng tự nguyện để giảm quân số, tăng tinh nhuệ trong tác chiến kỹ thuật cao, tiến tới nâng cao trình độ quân đội chuyên nghiệp là Đại học và trên Đại học.
Về xuất khẩu, năm 2007 xuất khẩu sang Mỹ sẽ gặp khó khăn sau khi Đảng Dân chủ với chính sách Nghiệp đoàn và Bảo hộ đã giành quyền kiểm soát Hạ viện sau 12 năm và Thượng viện sau 20 năm từ tay Đảng Cộng hoà tại cuộc bầu cử Quốc hội Mỹ ngày 7/11/2006. Thêm vào đó nền Kinh tế Mỹ đang vào chu kỳ suy thoái nhẹ, đồng Dolla Mỹ tiếp tục giảm giá do nhập siêu kéo dài nhiều năm với tỷ lệ chiếm tới 6% GDP của nền Kinh tế Mỹ sẽ có tác động đáng kể đến sự tăng trưởng của Kinh tế Thế giới. Cho dù nền kinh tế EU và Nhật Bản đang tăng trưởng trở lại nhưng với GDP của cả 2 nền kinh tế này chỉ mới bằng 78% GDP của Mỹ. Vì vậy chúng ta cần đa dạng hoá nguồn xuất khẩu và phát triển Thị trường tiêu dùng nội địa để duy trì tăng trưởng trong một Thế giới có nhiều biến cố và thay đổi nhanh chóng. Quá trình toàn cầu hoá sẽ bị chậm lại do sự phản đối của dân chúng của chính các nước phát triển G7 khi họ thấy toàn cầu hoá làm họ mất việc làm, quyền lợi không tăng do nguồn vốn đầu tư của chính quốc chuyển sang các nước đang phát triển. Trong ngắn hạn của chu kỳ kinh tế Thế giới, các quan hệ song phương và Khu vực là tác nhân quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi Quốc gia.
Năm 2006 qua đi khắc một Dấu son trọng yếu trong Lịch sử phát triển 4000 năm của Dân tộc Việt Nam. Sự nghiệp xây dựng Việt Nam - Dân giầu, Nước mạnh, xã hội Công bằng, Dân chủ, Văn minh - Là một sự nghiệp lớn, vô cùng gian nan và không phải lúc nào cũng phát triển theo một đường thẳng. Nhìn lại truyền thống Dân tộc và 76 năm Cách mạng giành Độc lập – Tự do và xây dựng Đất Nước dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam – Chúng ta có quyền có Đức tin vào tương lai tươi sáng và rực rỡ nhất về vận hội của Dân tộc Việt Nam thế kỷ XXI.
Hà nội, ngày 01/1/2007
|