 Khi bàn về nguồn nhân tài cho quốc gia thường đề cập đến các hoạt động: phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng - đào tạo, sử dụng nhân tài. Tạo nguồn nhân tài một cách chủ động chỉ khi các hoạt động có được vận hành theo một hệ thống liên hoàn nhờ giữa chúng có tác động qua lại. Trong khuôn khổ bài viết này, xin được đề cập đến hai nhóm giải pháp khi áp dụng có thể tạo ra quy trình có tính hệ thống đào tạo nhân tài. 1. Xây dựng khoa học giáo dục năng khiếu: Giáo dục học đã hình thành quy trình giáo dục cho các nhóm đối tượng chính: những người không có gì quá bất thường về sự phát triển tâm – sinh lý, trí tuệ (số đông); cho những người bị khuyết tật (khiếm thị, khiếm thính, thiểu năng trí tuệ …); cho những người có năng khiếu nổi trội về một lĩnh vực nào đó. Quy trình giáo dục những người bình thường đã được nghiên cứu nhiều, có truyền thống với những thành tựu đáng kể khi hoàn thiện về lý luận và thực tiễn. Giáo dục trẻ khuyết tật (giáo dục đặc biệt) hình thành muộn hơn những cũng đã trở thành một lĩnh vực khoa học đúc kết được những cơ sở lý luận và thực tiễn, trở thành tri thức của loài người. Có thể nói giáo dục học về hai đối tượng đầu đã hình thành được các quy trình có thể trao đổi, chuyển giao. Thế nhưng, giáo dục năng khiếu tuy đã có những thành tựu cho một số năng khiếu cụ thể, nhưng nhìn chung chưa đúc kết được một hệ thống lý luận cho việc đào tạo nhân tài. ở nước ta, việc tổ chức trường chuyên, lớp chọn để tạo nguồn, phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu tuy còn nhiều vấn đề phải rút kinh nghiệm nhưng cũng thu được nhiều kết quả đáng kể ở bậc giáo dục phổ thông. Sản phẩm giáo dục của các trường chuyên cũng đã cho chúng ta nhiều học sinh giỏi cấp quốc gia, quốc tề về toán học, vật lý, hóa học, tin học, sinh học … Trong số đó nhiều người đã trở thành những nhà khoa học khá, giỏi, một số người có tiếng trong nước và quốc tế. Thành tựu là vậy, nhưng chưa có nghiên cứu một cách bài bản để có cơ sở lý luận vững chắc cho việc quy trình hóa quá trình sáng tạo ra con người sáng tạo. Nói cách khác, việc vận dụng phương pháp luận sáng tạo trong thực tiễn giáo dục Việt Nam để phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng tài năng chưa được quan tâm đúng mức, những gì đạt được cũng chỉ mang tính kinh nghiệm nhiều hơn. Có lẽ cũng vì thế mà có ý kiến cho rằng bồi dưỡng năng khiếu toán tuy được quan tâm sớm, với nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế, nhưng nảy sinh vấn đề có ý nghĩa lý luận quan trọng: “Đào tạo thợ giải bài toán” hay “đào tạo nhà toán học”. Phân biệt thế nào là đào tạo “thợ toán” và đào tạo “nhà toán học” cần phải được soi sáng bằng một phương pháp luận sáng tạo. Khi đã làm rõ được bản chất ở mức khái niệm “thợ toán”, “nhà toán học”, thì chúng ta mới xác định được mục tiêu đào tạo “Nhà toán học”, từ đó mới xác định được nội dung, phương pháp đào tạo, khơi dậy được tiềm năng sáng tạo toán học. Các năng khiếu thuộc các lĩnh vực khác về khoa học tự nhiên, kỹ thuật – công nghệ, văn học, nghệ thuật cũng chỉ có thể đào tạo, bồi dưỡng thành nhân tài khi làm rõ được những vấn đề đó trên cơ sở nghiên cứu bản chất những khái niệm cốt lõi của phương pháp luận sáng tạo như: NĂNG LỰC, NĂNG KHIẾU, TÀI NĂNG, SÁNG TẠO… Tóm lại việc đào tạo nhân tài cho đất nước đòi hỏi xây dựng một khoa học giáo dục năng khiếu. Khoa học đó phải là một hệ thống cơ sở lý luận và thực hành giáo dục năng khiếu từ bậc phổ thông, đến đại học và trên đại học. 2. Sử dụng nhân tài Nếu như khoa học giáo dục năng khiếu cho ta quy trình tạo ra các cá nhân tài năng, thì phương pháp sử dụng nhân tài hợp lý hướng vào việc đánh giá từng cá nhân, sắp xếp họ vào cơ cấu đội ngũ, hoạch định các chế độ chính sách, đãi ngộ vật chất, tinh thần đủ kích thích sự phấn đấu cống hiến và duy trì, tái sản sinh năng lực sáng tạo. ở đây, cần nhấn mạnh việc tạo ra người tài ở cấp cá thể là nguyên liệu để xây dựng đội ngũ với cơ cấu hợp lý về ngành nghề, trình độ, lứa tuổi. Đơn vị sử dụng cấp cá thể cho hiệu quả không lớn bằng việc tạo ra biên chế đội ngũ vì lúc đó tạo ra sự hỗ trợ trí tuệ, ngành nghề khác nhau, giữa người đứng đầu với ê kíp nhiều cấp độ do người đó tạo ra. Đất nước chúng ta vừa qua cũng đào tạo được một số người giỏi, tài năng ở nhiều lĩnh vực nhưng họ chưa được biên chế hóa thành những tổ chức, ê kíp đồng bộ, vẫn tình trạng “Một cây làm chẳng nên non” mà chưa thành “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Khi nhấn mạng điểm yếu này có ý kiến cho rằng, người tài giỏi ở ta ngày một nhiều hơn nhưng họ chưa có môi trường tổ chức đồng bộ theo nghĩa trên để thể hiện tài năng phục vụ đất nước nhiều hơn tương xứng. Đãi ngộ không mang tính bình quân như chế độ lương hiện tại mới tạo động lực mạnh mẽ cho sự khơi dậy tiềm năng sáng tạo và nhân tài. Đãi ngộ không chỉ cho người tài một đời sống sinh hoạt vật chất sung túc, mà điều rất quan trọng là tạo cho họ những điều kiện thuận lợi, thu nhận thông tin từ nhiều nguồn trong thời đại bùng nổ thông tin. Trong phép dụng người tài, cần phát huy tối đa cái “mặt tài” và hạn chế tối đa có thể cái “tật” của người đó. Chúng ta biết rằng ít có người chỉ có mặt tài mà không có “tật” nào đó. Có thể một người tài về mặt này, mà lại tật về mặt khác. Nếu cái tật không gây hại nhiều, mà nhiều khi chỉ là những cá tính khó sửa thì nên nhân nhượng để chắt lọc, làm “lộ thiên” nhiều hơn mặt tài của cá nhân đó. Để dụng người có lãi về mặt tài nhiều nhất điều quan trọng là chăm lo cho mặt tài đó phát huy tối đa hơn là chỉ lo hạn chế mặt tật, lại càng phải tuyệt đối tránh việc không thích cái tật để vùi dập mặt tài, người tài. Điều này cần được lưu ý vì người có tài thường không mấy khi nịnh hót, giao tiếp nhiều khi khô cứng nên thoạt đầu không gây được thiện cảm, nếu người sử dụng họ cứ cố chấp thì thì dẫn tới vùi dập họ. Điều đó có hại cho đất nước, mà cũng chẳng lợi gì cho cá nhân thủ trưởng. Như vậy, công tác tổ chức cán bộ phải trở thành một khoa học – khoa học dụng người. Đó là khoa học của sự phát triển xã hội có tổ chức. Trong bài viết này, đề cậy đến hai vấn đề lớn là khoa học giáo dục năng khiếu và sử dụng nhân tài. Vấn đề thứ nhất là cung đoạn của phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nhân tài, vấn đề thứ hai là sử dụng sản phẩm của cung đoạn thứ nhất. Hai cung đoạn này có mối tác động qua lại hữu cơ đều có giá trị động lực thúc đẩy lẫn nhau. Gắn kết các cung đoạn để có sự tác động đó là một khoa học cần được quan tâm nghiên cứu để tạo được một hệ thống liên hoàn giữa các bước sau:
PHÁT HIỆN --> TUYỂN CHỌN --> BỒI DƯỠNG, ---> SỬ DỤNG ĐÀO TẠO
|