Chủ nghĩa bảo hộ : Đánh mất cơ hội
Cái gọi là vòng đàm phán Doha đề ra một mục tiêu đầy tham vọng là làm giảm sự mất cân bằng trong nền thương mại thế giới và hỗ trợ các nước đang phát triển trong việc xây dựng năng lực thương mại của các nước đó – vòng đàm phán này cho đến nay vẫn chưa kết thúc. Việc các nước thành viên WTO nhất trí được với nhau ở Doha về một chương trình hành động có ý nghĩa lớn hơn nhiều đối với các nước đang phát triển có liên quan so với việc xoá và giảm nợ dường như rất hào phóng hay việc tăng viện trợ phát triển cho các nước nghèo. Tuy nhiên, các nhà đàm phán WTO nhận thấy các trở lực ngày càng lớn hơn. Ngày càng có nhiều chính phủ muốn quay trở lại với các hiệp nghị thương mại khu vực hoặc song phương. Trong khi đó các nước giầu lại ra sức trì hoãn hệ thống trợ giá, đối với các nước đang phát triển thì hệ thống trợ giá này chính là một rào cản thương mại. Thất bại của vòng đàm phán Doha có nghĩa là “gây ra một nguy cơ và làm mất đi ba cơ hội”. Đàm phán thất bại làm ảnh hưởng đáng kể đến vai trò của WTO vì các chính phủ sẽ tăng cường dựa vào các hiệp định thương mại khu vực. Từ đó làm lỡ cơ hội điều chỉnh sự mất cân bằng của hệ thống hiện tại. Cơ hội thứ ba, thông qua chương trình Doha để làm một cái gì đó chống lại đói nghèo ở nhiều quốc gia, điều này cũng không thể thực hiện được. Chênh lệch về mức sống. Theo Jeffrey Sachs thuộc Earth Institute trường Đại học Columbia thì không có một bài thuốc chung trong việc chống đói nghèo cho tất cả các khu vực khác nhau trên thế giới. Giữa các nước nghèo và các nước đang phát triển về kinh tế có sự khác nhau rất lớn : thí dụ ở Châu á “sự liên kết mạnh mẽ giữa các lực lượng và sự sáng tạo” đã tạo nên một lực đẩy làm cho các nước vốn bị coi là nghèo khổ trước đây có thể tham gia vào sự tăng trưởng mạnh mẽ ở khu vực và có mức thu nhập ngày càng tăng. Do đó Châu á sẽ tạo nên một sự thay đổi về thế và lực, Châu á trở thành một trọng tâm mới của nền kinh tế thế giới. Theo Sachs thì trong khi đó ngược lại: “Nhiều quốc gia ở Châu Phi đang ngày càng trở nên mờ nhạt. Sự đói nghèo đến mức cùng quẫn, khí hậu khốc liệt, bệnh tật hoành hành, hạ tầng cơ sở yếu kém, nội chiến kéo dàn và mất ổn định về chính trị là những yếu tố làm cho các nước này bị mất vị trí của mình trên bản đồ kinh tế thế giới”. Ngược lại các nước đang phát triển ở Trung và Nam Mỹ lại có cơ hội tăng trưởng lớn hơn nhiều vì ở khu vực này các hệ thống dân chủ đã hình thành và khá ổn định, nền giáo dục và đô thị hoá đã tiến được một bước. Braxin là nước có thể tăng đáng kể ngành xuất khẩu của mình trong tương lai gần. Ngoài ra, còn có một nhóm nước mệnh danh là “những quốc gia vô vọng” đây là những nước không thuộc diện các nước nghèo nhất, nhưng do tình trạng kinh tế đình đốn, thất nghiệp triền miên, kéo dài từ nhiều năm nay, nay không còn hy vọng có cơ hội cải thiện tình hình. Đây là các nước ở khu vực Trung Đông và một số nước ở Mỹ La Tinh. Theo nhận định của Sachs thì “tại đây tầng lớp thanh niên sống trong tình trạng bi đát, thất vọng, không có việc làm, lực lượng này là một nguy cơ tiềm tàng có thể gây mất ổn định trên thế giới”. Sự phát triển kinh tế của các quốc gia này phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác về chính trị giữa các nước đó với các quốc gia có nền kinh tế hùng mạnh trên thế giới. Thâm hụt kép đe doạ đồng đôla. Kể từ khi Tổng thống Mỹ Bush nhậm chức, thâm hụt ngân sách Mỹ không ngừng tăng lên : năm 2005 thâm hụt 319 tỷ USD, năm nay con số này có thể tăng lên 359 tỷ USD. Thâm hụt cán cân thương mại của nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới còn thê thảm hơn nữa khi giá trị nhập khẩu của Mỹ lớn hơn giá trị xuất khẩu tới 725 tỷ USD. Người Mỹ sống trên mức khả năng của họ. Mỗi ngày họ phải vay của một phần còn lại của thế giới 6 tỷ USD để chi trả thâm hụt cán cân vãng lai và đầu tư của Mỹ ở nước ngoài. Người Mỹ có thể làm điều đó chừng nào các nhà đầu tư nước ngoài không xuất phát từ nhà đầu tư tư nhân mà từ các nhà nước như Nhật Bản và Trung Quốc. Các nước này mua ồ ạt trái phiếu của Mỹ để tìm cách ngăn chặn không cho đồng tiền của họ bị tăng giá so với đồng đôla. Để giảm thâm hụt cán cân thương mại xuống một nửa giá trị đồng đôla trong trao đổi mậu dịch phải giảm từ 20 đến 25%. Ngay cả khi đồng đôla từ từ giảm giá để đạt được mức độ nói trên thì do giá dầu mỏ tiếp tục tăng nên vẫn tiếp tục tồn tại các rủi ro như: lạm phát tăng, lãi xuất tăng, tăng trưởng bị chậm lại. Trong trường hợp đồng đôla bị mất giá nhanh và liên tục thì lãi suất ở Mỹ sẽ tăng nhanh, lên mức hai con số và nguy cơ về một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ tăng lên.
Mọi cán cân thương mại đều có hai mặt :
khi cán cân thương mại đối với Mỹ bị thâm hụt nặng nề thì cán cân thương mại với các nước như Nhật Bản, Trung Quốc và Đức lại bị dư thừa. Trong quá khứ, sự mất cân đối này thường dẫn đến chế độ bảo hộ mậu dịch : Tại Hạ viện Mỹ đã có nhiều tiếng nói đòi hạn chế thương mại đối với Trung Quốc. Robert Hormats, Phó Chủ tịch của Goldman Sachs nhận định “Chừng nào nền kinh tế Mỹ còn tăng trưởng và vẫn tiếp tục thu hút đồng tiền từ nước ngoài thì chính phủ Mỹ còn tận dụng thời gian này để giảm thâm hụt”. Nếu trong tương lai năng suất lao động của Mỹ bị giảm sút mạnh và tư bản chạy ra nước ngoài thì một cuộc phục hồi nhẹ nhàng sẽ trở nên quá muộn màng. Dầu mỏ, nỗi lo sợ về hiệu ứng domino. Vấn đề cung ứng dầu mỏ được coi là rủi ro số 1 đối với nền kinh tế thế giới. Trong vòng hai năm qua, giá dầu mỏ tăng gấp đôi, đầu năm 2006 giá một thùng dầu đã có lúc lên đến mức kỷ lục là 70 đôla. Nhu cầu đối với dầu mỏ ngày càng tăng của các quốc gia mới công nghiệp hoá như Trung Quốc, những bất ổn chính trị ở các nước có sản lượng dầu mỏ quan trọng ở khu vực Trung Cận Đông cũng như sự sao nhãng của ngành công nghiệp dầu mỏ trong việc xây dựng mới và mở rộng các cơ sở lọc dầu đã tạo ra một khó khăn chung về nhiên liệu. Giá dầu tăng ẩn chứa một rủi ro kép, lạm phát sẽ tăng lên và các ngân hàng phát hành buộc phải hành động. Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ tiếp tục tăng lãi xuất và sẽ gây tác dụng kìm hãm sự phát triển kinh tế thế giới - từ đó có thể nói giá dầu tăng có thể gây hiệu ứng domino. Theo nhiều chuyên gia thì thị trường dầu mỏ chỉ có thể lắng xuống với việc cải tiến công nghệ và với khả năng giải toả các xung đột chính trị hiện nay.
Khủng bố :
Xuất khẩu bạo lực Vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 có làm tăng thêm tầm quan trọng của chủ nghĩa khủng bố không? Cựu đại sứ Mỹ Richard Burt nay là giám đốc hãng tư vấn quốc tế về quản lý rủi ro cho rằng chủ nghĩa khủng bố giờ đầy đã trở thành yếu tố mang phạm vi quốc tế. Vấn đề đặt ra là phải tìm được những lời giải cho những câu hỏi như : “tại sao bọn khủng bố lại căm thù chúng ta?” hay “Tại sao có những nhóm khủng bố lại nhận được một sự ủng hộ, cổ vũ ở một số nước nhất định?”. Theo Burt thì chính việc dùng vũ lực để áp đặt một chính thể dân chủ chứa đựng những rủi ro lớn và nhiều khi lại làm cho các nhóm khủng bố được nhiều người hưởng ứng, ủng hộ. Sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng không phải vì sự hiện diện của lực lượng quân sự mà vì có những thay đổi về chính trị. Theo chuyên gia về vấn đề khủng bố Jessica Stern thì nguy cơ chủ nghĩa khủng bố tăng lên một phần do tình hình Iraq, nước này đang có những điều kiện thuận lợi nhất cho các nhóm khủng bố hoành hành và còn có khả năng xuất khẩu hoạt động của chúng sang các nước khác. Theo Stern thì “bọn khủng bố coi chúng là những người bị thua thiệt, bị chà đạp và bị lăng nhục. Với quá trình toàn cầu hoá cảm giác bị thu thiệt, chà đạp và nhục mạ có phần tăng lên”. Các chính phủ sẽ không ngăn cản nổi quá trình toàn cầu hoá cũng như tác động của nó đối với xã hội. Vì thế, cần tìm ra các giải pháp để bảo vệ tốt hơn cho người dân và nền kinh tế trước những hoạt động của bọn khủng bố.
Yếu tố rủi ro Trung Quốc : khi tăng trưởng quá nhanh.
Từ nhiều năm nay, năng lực kinh tế Trung Quốc (TQ) hàng năm tăng ở mức hai con số, đây là mức tăng chưa từng thấy ở bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. Nền kinh tế Trung Quốc với 1.3 tỷ dân phát triển rất nhanh, đến năm 2010 kinh tế TQ sẽ vượt Đức, và sẽ trở thành cường quốc kinh tế đứng hàng thứ ba thế giới và đến năm 2050 Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc kinh tế số một thế giới. Những người lạc quan thì hỏi sự đảo lộn vị trí thứ hạng này sẽ tác động như thế nào đối với nền kinh tế toàn cầu. Những kẻ hoài nghi thì đề cập đến các vấn đề như nhu cầu về nguyên liệu của Trung Quốc tăng nhanh, hệ thống ngân hàng kém hiệu quả và những yêu cầu cấp thiết về cải cách chính trị xã hội ở nước này. Một cuộc “hạ cánh cứng rắn” của TQ sẽ tạo nên làn sóng gây sốc không chỉ với khu vực Châu á. Giáo sư kinh tế David Li trường Đại học Thanh Hoa cho rằng, tỷ lệ tiết kiệm cao của người TQ tào nên một sự rủi ro lớn gấp ba lần : Lượng tiền tiết kiệm lớn của người TQ gây áp lực đầu tư đối với các ngân hàng và khuyến khích sự hình thành một quả bong bong trên thị trường bất động sản. Thứ hai, do lãi suất thấp nên các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư quá lớn và dẫn đến nguy cơ sản xuất bị bội thực. Thứ ba, do nhu cầu của người dân TQ trên thị trường nội địa không cao nên TQ buộc phải tiếp tục xuất khẩu các mặt hàng mang tính đại chúng của họ. Các quốc gia như Mỹ, bị thâm hụt trong cán cân thương mại với TQ đến một ngày nào đó sẽ không còn chống cự nổi với cơn lũ hàng hoá của TQ. Người dân Trung Quốc có đầy đủ lí do chính đáng để sống căn cơ tằn tiện; do chính sách mỗi gia đình chỉ có một con nên chẳng bao lâu nữa ở Trung Quốc sẽ có tình trạng một số ít người trẻ tuổi phải nuôi nấng chăm nom cho số đông người già. Hệ thống bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp của nhà nước ở Trung Quốc cho đến nay còn chưa có vì thế mỗi người phải lự lo cho mình. Chính phủ TQ đứng trước những cải cách xã hội hết sức to lớn nếu muốn có được sự bảo trợ tối thiểu cho mọi người dân. Một hệ thống bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm y tế tạo nên sự yên tâm và qua đó tỷ trọng tiết kiệm sẽ giảm xuống. Tuy nhiên những đòi hỏi về cải cách xã hội, hiện đại hoá hệ thông pháp luật và tiếp tục mở cửa thị trường vốn ở đất nước Trung Quốc to lớn mênh mông này không phải là việc ngày một ngày hai có thể đạt được. Nhiều thành phố ở Trung Quốc đang mọc lên đang làm cho cơn khát năng lượng và đói nguyên liệu tiếp tục tăng lên: theo kế hoạch của Chính phủ Trung Quốc trong những năm tới sẽ có khoảng 300 triệu người dân nước này chuyển ra thành thị để sinh sống – con số này bằng số dân nước Mỹ. Vấn đề này sẽ tác động rõ rệt vào giá cả năng lượng và nguyên liệu.
Siêu vi trùng không biết đến đường biên giới.
Vấn đề sức khoẻ ảnh hưởng khác nhau đến nền kinh tế thế giới: sức khoẻ người dân ở các nước công nghiệp được chăm sóc tốt, tuổi thọ được nâng lên tuy nhiên điều này lại ảnh hưởng nặng nề đến bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm xã hội. Trong khi đó việc được cung cấp đầy đủ nước sinh hoạt lại trở thành vấn đề có tính chính trị ở nhiều nước và điều này dễ dẫn đến xung đột vũ trang. Tuy nhiên việc xuất hiện dịch bệnh trên diện rộng, vượt qua đường biên giới quốc gia mới thực sự là một nguy cơ lớn nhất. Nếu như virut cúm gia cầm H5N1 biến đổi có thể lây lan từ người sang người thì nguy cơ xảy ra đại dịch là rất lớn không những chỉ làm cho hàng triệu người bị chết mà nhiều ngành kinh tế thế giới như thương mại, giao thông vận tải sẽ bị ngừng trệ. Vì thế, các nước trên thế giới cần phải tăng cường hợp tác để ngăn chặn và tiêu diệt kịp thời virus gây bệnh.
Rủi ro về công cụ tài chính:
Các nhà đầu tư đầu cơ đang vận động một khoản vốn cực lớn trên bình diện toàn cầu và có độ rủi ro rất cao. Rủi ro thông qua Hedgefonds tăng nhanh cùng với những thành công của nó : hiện tại trên thị trường thế giới có khoảng trên 500 hedgefonds đang hoạt động và thu hút những khoản tiền cực lớn. Để có lãi suất cao và thu nhiều lợi ngày càng lớn trong tương lai các nhà Hedgefondmanager ngày càng sẵn sàng chấp nhận những rủi ro lớn hơn và họ sẵn sàng đầu cơ bằng những khoản tiền đi vay của mình. Hơn nữa do Hedgefonds thuộc loại khách hàng cánh hẩu của các ngân hàng đầu tư và là bạn hàng lớn vì thế giữa họ có mối liên hệ rang buộc lẫn nhau. Năm 1998 Hedgefonds LTCM đã suýt bị sụp đổ làm cho thị trường thế giới chao đảo nhưng nhờ các ngân hàng tung hàng tỷ đôla cứu nguyên nên LTCM thoát nạn, Jochen Sanio, Chủ tịch cơ quan giám sát tài chính Đức BaFin nói “Vấn đề đặt ra hiện nay không phải là câu hỏi, liệu một cuộc khủng hoảng LTVM có diễn ra hay không mà là bao giờ thì cuộc khủng hoảng đó sẽ tái diễn”. Tuy nhiên đối với trường hợp này thì “cho đến nay chẳng có ai phòng bị cả”.
Các xung đột khu vực : mô hình trái ngược với chủ nghĩa tư bản.
Với việc kết thúc chiến tranh lạnh, thế giới trở nên cởi mở hơn, tuy nhiên những vấn đề chính trị lại không đơn giản, dễ dàng hơn chút nào, các xung đột khu vực liên tiếp nổ ra, những nước mới trỗi dậy đòi phải có một sự cân đối quyền lực mới. Nhiều nước đông dân lo sợ bị thu thiệt trong quá trình toàn cầu hoá và đưa ra những mô hình tư bản chủ nghĩa Phương Tây : Theo đánh giá của cựu thủ tướng Thụy Điển Carl Bildt thì đây là tiền đề để làm bùng nổ “những cơn bão táp thực sự”. Hiện nay nguy cơ này lớn nhất ở Trung Đông , ở Iraq và Iran, đây là nơi các xung đột cũ tiếp cận với những căng thẳng mới làm bùng lên bão tố. Nếu như nội chiến thực sự nổ ra ở Iraq thì theo ông Bildt cả Iran, Afghanistan và ả Rập Xê út sẽ lâm vào tình trạng mất ổn định. Nếu cuộc tranh cãi về nguyên tử ở Iran leo thang, Liên Hiệp Quốc sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với nước này thì ảnh hưởng của vấn đề này đến giá dầu sẽ rất lớn: để trả đũa, Iran có thể phong toả tuyến đường biển Hormus; 40% giao dịch dầu mỏ giữa các nước trên thế giới phải đi qua tuyến đường biển này. Bên cạnh những xung đột ở Trung Đông sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc cũng làm cho cán cân lực lượng trên thế giới thay đổi. Các nước láng giềng đều được hưởng lợi nhờ sự phát triển của Trung Quốc, quá trình này tác động có tính quyết định đến sự phát triển của Trung Quốc, quá trình này tác động có tính quyết định đến sự phát triển của Châu á. Không lâu nữa sẽ hình thành một tầng lớp trung lưu có sự tự tin mạnh mẽ hơn và trở thành một đối trọng kinh tế của Mỹ, hiện đang dẫn đầu về quân sự. Tương lai của Đài Loanh và Bắc Triều Tiên vẫn không rõ ràng : khó để Mỹ và Bắc Triều Tiên có thể dàn xếp được vấn đề nguyên tử cũng như Trung Quốc đang vươn lên mạnh mẽ lại thôi không đòi chủ quyền đối với Đài Loan. Tuy nhiên điều đó có thể khẳng định là quá trình toàn cầu hoá sẽ làm xê dịch tương quan lực lượng trên thế giới và sẽ có kẻ được người thua, kẻ thua trong quá trình toàn cầu hoá hôm nay có thể trở thành nguy cơ tiềm tang gây khủng hoảng chính trị ngày mai.
Kyoto và những khoản chi phí khổng lồ
Mặc dù các nhà khoa học vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân và hậu quả của việc nóng lên trên toàn cầu nhưng một sự thực hiển nhiên, không ai có thể phủ nhận là hàm lượng khí carbonic trong bầu khí quyển đã tăng lên 30% kể từ khi bùng nổ cuộc cách mạng công nghiệp. Lượng khí thải CO2 tác động như thế nào đến quá trình trái đất nóng lên và trái đất nóng lên sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với thế giới cũng đang là vấn đề tranh cãi trong giới khoa học. Thậm chí có người như David Henderson cthộc Naval Postgraduce Scool ở Monterey còn cho rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu không phải chỉ gây lên những tác động xấu, hơn nữa, nếu các mục tiêu do Hiệp Kyoto đề ra được thực hiện thì thế giới cũng chỉ kéo dài thời gian được thêm khoảng 6 năm nhưng chi phí cho việc thực hiện công ước khung về khí hậu lại vô cùng tốn kém. Không ít chuyên gia cho rằng giá dầu tăng buộc các quốc gia công nghiệp và các quốc gia đang có sự tăng trưởng mạnh mẽ và đang bị khát dầu phải tìm các nguồn năng lượng thay thế ít gây ô nhiễm hơn. Biện pháp này, theo họ, hiệu quả hơn nhiều so với việc thực hiện Hiệp ước Kyoto. |