Cho tới trước khi sông Tô bị người Pháp lấp, tức là trước năm 1889, phố Hàng Lược là một đoạn bờ phía đông của sông Tô Lịch. Để qua sông, có một cái cầu bắc chéo ở chỗ nay là gần ngã tư Hàng Lược-Hàng Rươi (cho nên trước đây đoạn này có tên là Cống chéo-Hàng Lược. Sang bên kia cầu có một ngõ ngang dẫn sang hàng cót. Ngõ không tên và cứ gọi là ngõ ngang nên cuối cùng danh từ chung thành danh từ riêng, dến khi pháp lậo bản đồ thành phố thì gọi luôn là Ruelle Ngõ Ngang (thực ra ruell đã có nghĩa là ngõ rồi). Nhưng cho tới những năm đầu thế kỷ 20, trong ngõ có nhiều nhà bán các loại chai lọ, cũ mới và vỏ hộp chè cũ (bằng sứ,thuỷ tinh hoặc thiếc) nên có thêm tên nữa là Hàng Chai. Một con sông lấp, một dãy phố ngang ngắn ngủi, hẹp hòi lại chỉ bán chai chè, đồng nát, tưởng chỉ là để hoài niệm một công trình giao thông thế mà đối với Thăng Long cổ đó lại là những nẻo đường đưa kinh thành đi vào mùa xuân. Tại sao lạii đi vào mùa xuân? Vì mỗi năm, mỗi dịp xuân về, bên cạnh dòng suối hoa đào từ các làng ven hồ Tây cuồn cuộn cảy vào nội đo trên sông Tô, trên Cống Chéo-Hàng lược cũng lũ lượt tài tử giai nhân, áo thắm khăn hang đi đò hoặc đi bộ trảy hội đình Nhà Trò thờ ông bà đã khai sáng ra cái nghiệp cầm ca đàn hát ở ngay giữa cái ngõ Ngang, bên cạnh sông Tô đó. Cứ từ Tết ông Táo hai mươi ba tháng chạp, các danh cầm danh ca không riêng Thăng Long mà cả xứ Bắc đổ về đây dâng lễ tổ nghề để chuẩn bị bước vào ngày hội chính mở đúng mùng 7 tết khi hạ cây nêu. Các cô đem hội mùa xuân đến sớm cho kinh thành và sông Tô Lịch cùng con phố Ngõ Ngang đã trở thành những nẻo đường đưa xuân sắc đến với người Tràng An, sông xuân, đường xuân và xuân tình. Nguyên là trước đây, mỗi dạo đón xuân về là các ả đào (hay còn gọi là các cô nhà trò) kéo nhau về phố này giỗ tổ, vì trong phố có ngôi đình Nhà Trò. Sáng hai mươi ba tháng chạp, mở cửa đình là đã có người đến dâng lễ, có lẽ dâng lễ trước như vậy để “Tổ” chiếu cố cho chăng? Và đến ngày mùng 7 tết là các cô điểm trang đẹp đẽ xênh phách tới đây hát thi, múa thi, đọ tài khoe thanh và khoe cả sắc nữa. đi theo các cô là các ông kép đàn, họ đem theo những cây đàn đáy mà cần đàn dài nghêu ngao, và cả quản giáp, quản ca vai đeo đẫy lụa đựng trống và roi chầu. Họ kéo về đình Nhà Trò tức đình thờ tổ nghề ả đào ở tại phố Hàng Chai. Nhưng cụ thể là đình ở vào chỗ nào? hiện tại ở chỗ số nhà 7B nhìn có dáng vẻ một nơi thờ phụng gì đây, vì trên sát nóc nhà còn có ba chữ Hán “Lạc Thiện đình”. Lạc là vui, Thiện là lành! Có vẻ liên quan đến ca xướng đây. Nhưng nay đã thành nhà ở. Hỏi các vị dân ở ngay trong số nhà ấy không ai biết gì về lai lịch nơi họ cư trú vì tất cả các hộ dân ở đây đều chỉ mới đến từ thời tạm chiếm (1947-1954) và sau ngày hoà bình lập lại (1954). Phải tìm gặp những vị “dân cựu” vài ba đời ở đây thì mới tỏ tường. Bà cụ Thục ở đầu phố, chỗ rẽ ra Hàng Rươi, cho biết Lạc Thiện đình vốn là điện thờ Mẫu của cụ Đức Phương. Còn đình Nhà Trò là ngôi nhà số 9. Thế là đã tìm ra một địa chỉ văn hoá cổ truyền. Song khi vào ngôi đình thì chẳng thấy cái gì là đình nữa, toàn là các hộ dân và đều là mới tới ở vài chục năm nay thôi. Thế là lại cũng chỉ có bà cụ Thục mới cho biết vài điều cụ thể. Khoảng sáu bảy chục năm trở về trước, hàng năm ngày hội giỗ tổ mở vào ngày hạ cây nêu. Ca công, danh kỹ của Hà Nội và lân cận kéo về đây, trước là lễ tổ sau là hát thi. Dập dìu giai nhân, đúng là khúc sông và nẻo đường đã ngập tràn sắc xuân. Họ hát chầu thánh tới vài ba chục điệu. Tiến hát cao thấp bổng trầm, tiếng phách giòn tan, tiếng đàn lửng lơ, tiếng trống chầu chát tom khi khoan khi nhặt. Khối người mê. Đúng như câu thơ của Nguyễn Du: Khúc đâu đầm ấm xuân tình/ ấy hồn Hồ điệp hay mình Trang Sinh. Ngoài hát ra, các cô còn có những trò múa (cho nên mới gọi là hát nhà trò), múa bỏ bộ, múa tứ linh, múa bài bôngv.v… Múa bài bông đẹp, hấp dẫn và tốn kém nhiều, kể cả công sức luyện tập lẫn sắm sanh áo quần trang phục, tham gia trò múa này có tới hàng chục cô (cùng thuộc về một giáo phường). Xiêm y rực rỡ, đầu đuôi mũ kim phượng kiểu cánh sen thêu chim phượng bằng kim tuyến. Mình mặc áo mã tiên màu hoa đào có đính các chân chỉ hạt bột. Yếm cũng màu hoa đào. Thắt lưng thì nhiều màu: nguyệt bạch, hồ thuỷ, hoa lý… Quần lĩnh đen bóng may chít ống. Chân các cô đi hài thêu cánh phượng. Tay các cô cầm quạt Tầu. Trên vai mỗi người đặt một chiếc đòn gánh ngắn, hai đầu đeo đèn lồng nhiều màu sắc, trong thắp nến. Một số cô thay đèn lồng là hai lẵng hoa tươi (hang, cúc). Trước khi vào múa, đội hình xếp hàng ở ngoài sân đình. Quản giáp (người đạo diễn) đánh trống cái, giữ nhịp chỉ huy. Các ca công gẩy đàn, kéo nhị, thổi sáo. Quản ca ngồi gõ phách. Thoạt đầu, các cô xếp hàng một, đi vào trước hương án, lượn một vòng rồi tách ra làm hai hàng, quỳ lễ, hai tay nâng quạt lên trên đầu. Sau đó họ đứng dậy và múa theo nhạc tiến, lùi, nhanh, chậm… đều theo tiếng trống. Một qui định nghiêm ngặt là lúc xoay thì chỉ xoay nửa người chứ không được quay lưng vào hương án. Và tất nhiên phải làm sao cho nến không đổ, đèn không cháy, hoa không rơi. Vậy múa bài bông cũng là tiết mục đặc sắc của người xưa. Thế còn tổ nghề ả đào là ai? Hình như không có một vị duy nhất nào cho toàn ngành mà mỗi một địa phương có một vị, như ở Thanh Hoá thì có chàng thư sinh có tên là Phong Quế và vợ vốn là công chúa vì mê tài đàn ca của chàng mà bỏ điện ngọc lầu vàng đi theo chồng giang hồ lưu lạc. Còn ở Thăng Long và Kinh Bắc thì tổ lại là vợ chồng Đinh Dự-Đường Hoa, một cặp giai nhân tài tử. Đình thờ chính là đình làng Lỗ Khê (huyện Đông Anh) mà theo tương truyền là nơi vợ chồng ông trụ lại truyền nghề cho dân làng. Nghĩ cũng lạ. Đã đành Thăng Long là đất “Kẻ chợ”, đây là nơi tụ hội tinh hoa và tài hoa bách nghệ của cả nước là đúng quá rồi. Song cứ nghĩ rằng đó là nói về các nghề thủ công mỹ nghệ. Để giữ nếp xưa “uống nước nhớ nguồn” nên con cháu bách nghệ mới lập các đình thờ tổ nghề: tổ nghề giày da ở ngõ Hàng Hành, tổ nghề kim hoàn ở phố Hàng Bạc, tổ nghề nhuộm điều ở phố Hàng Đàov.v… Ai ngờ lại có cả đình thờ tổ nghề hát xướng đàn ca. Thì ra cái nghề bị phong kiến khinh rẻ cũng đã tự khẳng định và dân làm nghề cũng tự hào về truyền thống, cũng có đình thờ tổ. Đó cũng là tâm hồn yêu quý nghệ thuật. Cho dù tổ là ai thì việc có một ngôi đình thờ tổ nghề hát xướng đàn ca ngay giữa kinh đô cũng nói lên lòng trân trọng nghệ thuật của người Hà Nội xưa. Và con sông Tô cùng dãy phố Hàng Lược-Ngõ Ngang đúng là những con đường đưa mùa xuân đến sớm về với Thăng Long |