Hoi nhan tai Viet Nam
Đang tải dữ liệu...

Tin tức của TW Hội từ ngày 01/11/2008 đến ngày 30/11/2008!

 Trang chủ | Diễn đàn | Liên hệ - Góp ý | 
Giới thiệu
Hoạt động của TW Hội
Tin tức - Sự kiện
Nghiên cứu-Tham luận
Bản tin Trí thức & Phát triển
Bản tin số 1
Bản tin số 2
Bản tin số 3
Bản tin số 4
Bản tin số 5
Bản tin số 6
Bản tin số 7
Bản tin số 8
Bản tin số 9
Bản tin số 10
Bản tin số 11
Bản tin số 12
Bản tin số 13
Bản tin số 14
Bản tin số 15
Bản tin số 16
Bản tin số 17
Bản tin số 18
Gương Mặt Việt
Nhân tài xưa và nay
Nhân tài thế giới
Đơn vị trực thuộc Hội
Hội Viên
Văn bản pháp quy
Góc thư giãn
Liên hệ - Góp ý
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 679.240
Người đẹp

“Thập đại mỹ nhân Việt Nam” và cuộc sống sau vương miện (2)

“Thập đại mỹ nhân Việt Nam” và cuộc sống sau vương miện (1)
Liên kết
Trang chủ  >  Tiếng Việt  >  Bản tin Trí thức & Phát triển  >  Bản tin số 4
Đại học…để làm gì?
   
01:35' PM - Thứ tư, 28/03/2007

Từ lâu ở Việt Nam, 2 tiếng “Đại học” là chỉ một cấp bậc giáo dục đào tạo của xã hội, nơi trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng chuyên môn của một ngành nào đó, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội về một nguồn nhân lực mà ta vẫn gọi là cao cấp. Với nền tảng là những kiến thức cơ bản của 12 năm phổ thông, cấp học tiếp theo - Đại học - đi sâu đào tạo về một chuyên ngành cho các sinh viên, để khi ra trường họ có đủ khả năng làm việc thực tế, đóng góp sức lực cũng như trí lực một cách hữu hiệu cho đất nước. Quan điểm về Đại học này có lẽ không sai. Tuy nhiên, liệu đó có phải là tất cả ỹ nghĩa của việc học Đại học?
Một thực tế chúng ta có thể thấy ở Việt Nam hiện nay, đó chính là vấn đề một tỷ lệ lớn các sinh viên Đại học ra trường không làm việc đúng chuyên ngành Đại học mà họ được đào tạo. Song nhiều người trong số hộ vẫn làm rất tốt, rất hiệu quả công việc của mình. Vậy có vài câu hỏi cần phải đặt ra ở đây: những kiến thức của 4,5 năm học Đại học để làm gì? Liệu có phải khoảng thời gian học Đại học là hoàn toàn vô ích?
Ở đây, tạm thời chúng ta chưa xét đến vấn đề học Đại học theo kiểu hướng tới mục đích có trong tay tấm bằng, để rồi tự xếp mình vào đội ngũ nguồn nhân lực cấp cao của xã hội. Cũng tạm gác lại một vấn đề rất thời sự hiện nay về những người làm trái ngành trái nghề - vấn đề hướng nghiệp. Hãy chỉ nói tới chuyện học hành thực sự nghiêm túc, của những sinh viên có ý thức học với trọn vẹn ý nghĩa của chữ “học” trong Đại học ngày nay.
Cùng hồi tưởng và suy nghĩ một chút về nền giáo dục thời xưa, cái thời mà nhiều người thế hệ ngày nay gọi là thời phong kiến cũ kỹ và vẫn dành cho nó một tính từ ít tích cực_“giáo điều”. Học trò ngày ấy, đi học cả đời chỉ biết có tụng đi tụng lại bấy nhiêu sách vở tứ thư ngũ kinh xưa cũ, hoàn toàn là chữ nghĩa, lý thuyết suông mà thôi. Quả có như vậy thật. Song nghĩ đi thì cũng nên nghĩ lại, chẳng hạn thử xét một thời kỳ vào loại tàn tạ nhất của phong kiến Việt Nam - thời Nguyễn. Nền giáo dục nào đã tạo nên những Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Duy Hiệu, Trương Định, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch..., cho đến Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thái Thân, Ngô Đức Kế, Lương Văn Can, Nguyễn Thượng Hiền..., đó là chỉ thử kể qua một cách không có hệ thống gì và không theo bất cứ trật tự sắp xếp nào. Nền giáo dục đại học nào đã tạo nên những nhân cách lừng lững đó, không chỉ từng cá thể riêng lẻ, mà là cả một tầng lớp xã hội, mà ta vẫn gọi là tầng lớp sĩ phu của dân tộc, một tầng lớp sĩ phu đã làm nên cả một thời kỳ lịch sử oanh liệt, mà công cuộc cách mạng vô sản sau đó là một tiếp diễn biện chứng?
Những con người ấy, sản phẩm của chính nền giáo dục mà ta gọi là “giáo điều” xưa cũ kia, họ đều là những nhà nho uyên thâm, họ thuộc làu kinh sử, song quan trọng hơn nữa, họ không chỉ máy móc làm theo những điều ghi trong sách vở, mà làm đúng theo cái cốt lõi tinh tuý, uyên thâm nhất tiềm ẩn trong chiều sâu của những tri thức tích luỹ suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử của một phần nhân loại. Nghĩa là họ học để tự tạo nên cho mình một tư duy độc lập, một nhân cách độc lập, học để dám và biết độc lập suy nghĩ bất chấp tất cả áp lực mọi kiểu, kể cả áp lực của chính những giáo điều họ được dạy qua sách vở.
Như vậy, độc lập và linh hoạt trong tư duy, suy nghĩ, đó chính là tiêu chí hàng đầu để đánh giá xem một đất nước đã có một nền Đại học thật sự hay chưa, và nếu chưa thì phải xây dựng cho kỳ được, vì đấy là sự phát triển và sống còn của dân tộc.
Đi học tất nhiên là để có kiến thức, không ai chối cãi điều đó. Nhưng kiến thức thì vô tận. Có một con số thống kê như sau: từ năm 0 (sau Công nguyên) đến năm 1500, trong 1.500 năm, kiến thức của nhân loại đã tăng lên gấp đôi. Và ngày nay tốc độ đó là 18 tháng, cứ 18 tháng tổng số kiến thức nhân loại lại được nhân đôi. Vậy nên không có cách gì học thuộc cho hết kiến thức ấy. Vấn đề là cần có một số kiến thức cơ bản tối thiểu làm nền tảng, và trên cơ sở đó học được cách suy nghĩ độc lập, tạo được cho mình khả năng khi cần kiến thức gì thì biết tìm nó ở đâu, cách tìm như thế nào, và quan trọng hơn nữa, sử dụng nó như thế nào. Nói cách khác, có kiến thức nhưng độc lập với kiến thức, không bị phụ thuộc, không nô lệ vào nó, tự mình tạo ra kiến thức mới cho chính mình, để hành động ở đời và dám chịu trách nhiệm về hành động đó của mình.
Vấn đề của chúng ta hiện nay chính là cần xem xét lại tất cả các trường Đại học của chúng ta theo tiêu chí quan trọng hàng đầu này, để xem thử đó có đúng là Đại học thật không, hay chỉ là “phổ thông cấp bốn” như có người “vui vui” mà gọi từ lâu! (Sự thật thì ở các nước tiên tiến ngày nay, ngay ở cấp phổ thông người ta cũng đã không còn lối “thầy đọc trò chép” như vẫn phổ biến ở Đại học ta. Ngay từ cấp I, trẻ em đã được khuyến khích tối đa sự độc lập trong suy nghĩ).
Câu chuyện Đại học, như vậy, thật sự là câu chuyện vô cùng nghiêm túc. Bởi nó liên quan trực tiếp đến câu hỏi cơ bản: Chúng ta muốn đào tạo nên con người như thế nào đây cho xã hội đang phát triển này?
Những con người được nhét đầy kiến thức thuộc lòng đến mụ mẫm đi (ngay từ phổ thông) vì gánh nặng ngày càng chất còng lưng (và còng óc), con người không dám và biết tự mình suy nghĩ; hay đào tạo nên con người thật sự tự do từ chính bên trong mình, cho một xã hội tự do?
Tôi nghĩ đã đến lúc phải đặt ra một cách thật rạch ròi câu hỏi đó, câu hỏi gốc của tất cả các câu hỏi khác, cho nền Giáo dục của chúng ta, trước hết là Giáo dục Đại học. Không trả lời dứt khoát, sòng phẳng câu hỏi đó thì tất cả những sửa chữa khác chỉ là uổng công, đơn giản vì chúng chỉ nhằm một mục tiêu đã sai ngay từ đầu.
Bao nhiêu điều kiện để xây dựng được một đại học “ngang tầm quốc tế”? Nào vật chất tài chính, nào trang thiết bị hiện đại, nào thầy thật giỏi, nào điều kiện hợp tác quốc tế tốt... Tất cả đều hết sức cần thiết, không có không xong. Nhưng chính vì quan niệm về Đại học vừa nói trên kia, nên có một điều kiện hàng đầu, có nó thì tất cả những điều kiện vừa kể mới có thể có ý nghĩa, mới phát huy được hiệu quả, bằng không thì có đổ của đổ công bao nhiêu cũng vô ích, cũng là trở lại con đường mòn cũ thôi.
Như chúng ta vừa nói ở trên, Đại học là để tạo nên những con người tự chủ ở đời, để rồi có thể thật sự làm chủ một cách đàng hoàng xã hội và đất nước, vậy nên trường Đại học trước hết phải là một cơ sở xã hội tự chủ, theo nghĩa lành mạnh và đúng đắn nhất của khái niệm này. Trong Đề án về cải cách Đại học do Bộ Giáo dục trình lên Chính phủ gần đây, có điều rất đáng mừng là tư tưởng về việc trao quyền tự chủ rộng rãi cho các trường Đại học đã được đề ra và nhấn mạnh.
Đấy là một bước chuyển biến quan trọng và có ý nghĩa trong tư duy cơ bản của ngành Giáo dục. Trao quyền tự chủ rộng rãi cho Đại học chính là để cho Đại học trở lại đúng chức năng thiêng liêng của nó, giao cho nó một nhiệm vụ trọng đại, khác hẳn công việc nhàm chán (và cũng quá dễ dàng) nó vẫn làm lâu nay là dạy cho người ta những “chân lý” tuyệt đối định sẵn: bây giờ nó phải tạo ra cho được những con người tự chủ cho xã hội.
Vậy thế nào là một con người tự chủ, và bằng cách nào trường đại học tạo nên được những con người tự chủ?
Điều kiện đầu tiên của tự chủ, như ai cũng có thể biết, là phải được tự do tư tưởng, hoàn toàn tự do tư tưởng. Không có điều kiện tiên quyết đó thì nói tự chủ chỉ là nói nhảm, hay tệ hơn nữa là lừa bịp. Trường đại học trước hết là môi trường của tự do tư tưởng, ở đấy con người tập làm quen với đức tính quan trọng nhất của một người có thể được gọi là người trí thức: một người biết rằng mình có quyền tự do tư tưởng, biết cách sử dụng đúng đắn quyền lớn nhất, cao nhất đó của con người, và biết tôn trọng quyền đó ở mọi người.
Khái niệm “trao quyền tự chủ rộng rãi cho các đại học” nói trong dự án cải cách Đại học do Bộ Giáo dục trình Chính phủ nên hiểu là như vậy. Phải từ cách hiểu đó mà triển khai các tự chủ cụ thể cần thiết khác, như tự chủ về tuyển sinh, tự chủ về chương trình, tự chủ về phương pháp dạy và học, tự chủ về tổ chức nhân sự, về đội ngũ giáo sư, về quản trị, về tài chính...
Trong đó, cần nhấn mạnh đến tự chủ về phương pháp dạy và học. Về chương trình, nói chung hiện nay không quá khó, có thể tha hồ kéo trên mạng xuống vô số chương trình tiên tiến của các đại học tiên tiến trên thế giới, chỉ với một điều kiện là ta dám chấp nhận nó. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị tất nhiên không dễ, nhưng có thể hoàn toàn giải quyết được nếu ta thật sự coi đây là việc quan trọng, quan trọng hàng đầu, không chỉ của giáo dục mà của cả xã hội. Còn về đội ngũ giáo sư và công tác quản trị đại học thì lại liên quan trực tiếp và mật thiết đến điều kiện vừa nói trên, tức phương pháp dạy và học, thay đổi cho được cơ bản phương pháp dạy và học.
Có một điều cứ tưởng đã xong, đã giải quyết xong từ lâu lắm rồi, chẳng có gì phải nói nữa, nhưng thật ra thì trong thực tế lại chưa ổn chút nào. Tại sao ta gọi những người đi học phổ thông là “học sinh”, trong khi đi học Đại học lại là “sinh viên”. Danh có chính thì ngôn mới thuận: học sinh là trẻ em, cần dạy dỗ, dìu dắt chúng. Còn sinh viên là người lớn, với tất cả tư cách và quyền của người lớn.
Ở Đại học khác với ở Phổ thông, chúng ta làm việc với những người lớn. Đối với người lớn người ta không răn bảo, truyền cho những chân lý có trước và bất di bất dịch, mà là đối thoại, giúp người ta tự nghiên cứu, tự phân tích, tự suy nghĩ, tự tìm ra sự thật, thậm chí có thể là sự thật khác, ngược với sự thật được viết trong sách và thầy giảng. Xin thử trích dẫn một đôi suy nghĩ của một số nhà giáo dục Pháp mới đây về điều này:
Armand Frémont viết: “Theo tôi, dường như không phải chúng ta cần dạy những niềm tin đinh ninh mà là dạy sự hoài nghi”.
René Blanchet thì nói: “Cần luôn nhớ rằng một trong những mục đích chính của giáo dục không phải là chất đống cho đầy các kiến thức, mà là khơi thức dậy đầu óc phê phán”...
Còn vô số những ý kiến tương tự của những người đã lăn lộn nhiều năm trong những nền giáo dục lớn, trăn trở cả đời vì chúng. “Hoài nghi”, “phê phán”, “tranh cãi”, “phản đối trước khi chấp nhận”..., thiết nghĩ một người chưa đạt được những yêu cầu tinh thần tối thiểu đó thì chưa thể coi là một người có trình độ Đại học một cách đàng hoàng.
Phương pháp học ở Đại học do vậy phải là chủ động nghiên cứu, tự mình đọc và nghiên cứu (tất nhiên có sự gợi ý của thầy), tự mình phân tích, suy luận, tìm tòi, nghi ngờ, đặt lại vấn đề, phê phán, phản đối, tranh cãi... để cuối cùng chỉ chấp nhận cái tự mình tin là đúng. Song, điều còn quan trọng hơn gấp bội là qua đó tự rèn luyện tư cách độc lập, tự do tư tưởng của mình, để dần dần trở thành một người trí thức thật sự, tham gia vào tầng lớp trí thức đóng góp và cống hiến cho đất nước.
Người thầy ở đây do vậy thật sự là một người bạn lớn, một người bạn uyên bác để có thể giúp sinh viên trong quá trình đi tìm chân lý khó nhọc của họ, và đặc biệt tôn trọng họ như những người lớn đối thoại bình đẳng với mình, cùng mình đồng hành trên con đường gian nan làm người và đi tìm, đi khai phá những chân trời tri thức.

Thử nghĩ một vài kiến nghị
Có những Đại học như vậy đang trở thành nhu cầu bức bách của xã hội ta, nếu chúng ta nhất quyết không cam chịu mãi số phận lạc hậu so với bầu bạn năm châu, nếu chúng ta hiểu rằng trong “thế giới phẳng” ngày nay (như cách nói rất ấn tượng của Friedman), toàn cầu hóa và hội nhập không còn là một lựa chọn mà là một thực tế, và trong cuộc chơi mới đó của thời đại ta mới có thể đĩnh đạc vào cuộc cùng thiên hạ.
Vấn đề bây giờ là bắt đầu từ đâu, như thế nào?
Chắc sẽ rất khó “cải tạo” tình hình một cách cơ bản trên cơ sở các trường Đại học đang có của ta hiện nay. Có đến nhiều trăm trường và tổ chức, nề nếp, thói quen, “truyền thống” của họ đã quá lâu năm, kéo dài, chẳng dễ gì lay chuyển, nhất là khi lay chuyển ở chính những vấn đề thuộc về gốc rễ chứ không phải chi tiết.
Có lẽ cách tốt nhất là thiết lập một vài ba trường đại học hoàn toàn mới, theo tư duy mới, trên những nguyên lý mới, có học hỏi một cách nghiêm túc kinh nghiệm Đại học phong phú của các nước tiên tiến. Có người gọi đó là kiểu những trường “Đại học hoa tiêu” (pilot), một công văn của Thủ tướng Chính phủ gọi là “trường Đại học mẫu”. Tạo nên đôi ba điểm đột phá, để rồi từ đấy loan rộng ra, làm thay đổi dần tình hình chung. Tôi nghĩ sự chuyển động có thể sẽ không quá lâu đâu nếu ta có quyết sách đúng, mạnh, kiên quyết tập trung cho những thí điểm để đảm bảo cho chúng thành công.
Theo chỗ tôi được biết, một số dạng trường theo kiểu này đang cố gắng hình thành, theo nhiều kiểu và nhiều con đường khác nhau, trường công tập trung của nhà nước làm lớn ngay từ đầu, hay trường tư đi lên dần theo từng bước thích hợp... Cần khuyến khích và ủng hộ một cách tích cực và thiết thực những cố gắng đó. Tôi biết những người đang lao vào công cuộc này đều thấy rõ trước mắt mình cả một núi khó khăn về rất nhiều mặt.
Họ làm vì tin rằng đó là việc đáng làm nhất cho đất nước bây giờ, sẵn sàng cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp mà theo họ có ý nghĩa sống còn đối với cả dân tộc. Những người tâm huyết với sự phát triển và tự cường của dân tộc cần đến với họ, cùng bắt tay, cùng nhau làm nên sự nghiệp mới, tạo ra bước ngoặt mới của giáo dục, của đại học, và cũng là của đất nước.
Như là đang có một công cuộc duy tân mới đang được khởi xướng. Một trăm năm trước, Phan Châu Trinh, một trong những bộ óc sáng suốt nhất của VN đầu thế kỷ 20, đã thống thiết chủ trương và bắt tay thực hiện, nhưng rồi những uẩn khúc bi tráng của lịch sử đã khiến ông đứt gánh giữa đường. Ngày nay chúng ta có hang nghìn lần điều kiện thuận lợi hơn để tiếp tục sự nghiệp dở dang của ông trong một thế giới mới. Sẽ thật xấu hổ, và có tội lớn với tương lai, nếu chúng ta để cho công cuộc này dở dang, lần chần kéo rê, để mất thời cơ thêm một lần nữa…

(Nguyên Ngọc)

Số lượt đọc:  45  -  Cập nhật lần cuối:  28/03/2007 01:36:28 PM
  Đánh giá của bạn về bài viết:
Tổng số:  0     Trung bình:  0
Bài mới:
  • Xuất ngoại làm sếp: chiến lược nguồn nhân lực  
  • Nữ Phó giáo sư - Tiến sĩ trẻ nhất Việt Nam.  
  • MALAYSIA VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KỸ THUẬT  
  • Bài đã đăng:
  • 26 ứng viên Việt Nam nhận học bổng nhà lãnh đạo tương lai
  • Thông báo

    Tiêu chí trao giải thưởng nhân tài Việt Nam của Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực nhân tài Việt Nam và Quỹ hỗ trợ nhân tài Việt Nam. Chi tiết...

    Tản mạn đó đây
    10 lời nguyền kỳ lạ trong lịch sử
    10 tỷ phú trẻ tuổi nhất thế giới
    Bill Gates chỉ về ba trong danh sách tỉ phú giàu nhất thế giới
    10 người đẹp "hot" nhất Trung Quốc 2007
    10 sự kiện khoa học đời sống nổi bật năm 2007
    Những con vật hao hao giống mặt người
    10 thành phố sản sinh kiều nữ đẹp nhất thế g
    Nhìn lại những kỷ lục thế giới thú vị của năm 2007
    GƯƠNG MẶT MỸ NHÂN CHÂU Á TẠI MISS WORLD 2007
     Trang chủ | Diễn đàn | Liên hệ - Góp ý |