Đà Lạt là một thành phố xinh đẹp và thơ mộng. Nơi đây, mỗi một địa danh là một huyền thoại sinh động và thuỷ chung cùng thời gian. Không ít du khách khi đặt chân đên xứ sở của những đồi thông, thác nước, vườn hoa… đã bùi ngùi tự hỏi: ai là người đầu tiên đã đặt chân đến cao nguyên Lang Bian và khai sinh ra thành phố xinh đẹp này? Theo các tài liệu hiện có, vào thế kỷ thứ XVII, người Việt (Kinh-Yuan) đã có mặt tại Đà Lạt. Lúc bấy giờ, Lâm Đồng- Đà Lạt vẫn có cái tên chung là Sơn động, Man động hoặc Thuộc. Trong Ô châu lục (thế kỷ thứ XVI) của Dương Văn An và Phủ biên tạp lục (thế kỷ XVIII) của Lê Quý Đôn đã có viết khá kỹ về trấn Thuận Hoá (Huế) và đặc biệt thỉnh thoảng có bàn đến miền đất vùng cao của phủ Bình Thuận. Lê Quý Đôn viết: “phủ Bình Thuận có 20 thuộc và phường. Ngày trước họ Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, thiết lập các phu,û huyện. Những nơi gần rừng núi hoặc những nơi ở dọc khe, dọc biển đều đặt làm thuộc cả”. Cũng theo Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn còn “tiết lộ” thêm: “Lúc bấy giờ, nhà nước định cho phép nơi nào từ 500 người trở lên được đặt người cai thuộc và mộ ký lục. Nơi nào có 450 người trở lên thì đặt một người ký lục thuộc…” Nhưng sau đó Lê Quý Đôn không đề cập đến các thuộc ở Bình Thuận có bao nhiêu ký lục, tướng thần. Do đó khó mà biết được các Sơn động, Man động thời ấy có bao nhiêu dân. Đến thế kỷ XIX Phan Huy Chú đi bộ từ Huế vào Nam bộ và ra Bắc để vẽ bản đồ Đại Nam nhất thống (in năm 1834). Trên tấm bản đồ này Phan Huy Chú có vẽ mấy ngọn núi ở vùng Lâm Đồng ngày nay. Phải chăng đây chính là sự định vị đầu tiên của thành phố Đà Lạt trên bản đồ Tổ quốc Việt Nam? Đến giữa thế kỷ XIX, Nguyễn Thông (1827-1884) đã thám hiểm Sơn quốc và phát hiện một vùng của Lâm Đồng. Nguyễn Thông quê ở Long An, có thời gian làm quan ở Huế. Khi các tỉnh miền Nam rơi vào tay Pháp, ông theo Trương Công Định mộ quân chống giặc Pháp. Lúc ấy, do yêu cầu cấp thiết của cuộc kháng chiến, Nguyễn Thông quyết định thám hiểm Sơn quốc (có lẽ là vùng Tây Nguyên ngày nay). Cuộc thám hiểm lịch sử vùng Nam Tây Nguyên đã được Nguyễn Thông ghi lại qua thơ văn của ông: Ngạ hổ giáp bộ hành Ai nhao hầu lâm đoan (“Hổ đói ở khắp nơi, khắp rừng khỉ kêu réo”) Lộ trình của Nguyễn Thông lên Nam Tây Nguyên theo hai lối: một lối từ miền Nam ra, có lẽ ngược theo sông Đồng Nai bây giờ: “Ngã bối Nam lai giả” (chúng tôi từ miền Nam đến) và lối thứ hai: “Tam Phan tây khứ tiếp cùng hoang” (tức: “từ giã phía tây ba xứ Phan”). Trong chuyến thám hiểm này Nguyễn Thông phát hiện ra đặc tính dân cư vùng La Ngư thượng (có lẽ là một vùng của Lâm Đồng ngày nay) sống quây quần bên nhau: Quần cư lai Chiêm Man (Thượng Chàm sống bên nhau) Khi dâng sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng Thượng du, Nguyễn Thông có trình bày cụ thể cuộc thám hiểm Sơn quốc. Đáng chú ý nhất là có đoạn liên quan đến vùng Di Linh (một huyện của Lâm Đồng ngày nay): “vào ngày 21-5, có người rất am hiểu đường sá và phong tục dân man là bọn Nguyễn Văn Trị, Sĩ Văn Long, Dương Long Hợp cùng cùng viên suất của đội Hoàng Phú đi trước đến sông Dã Dương xem tình thế. Ngày 22-6 bọn Lã Dương về tường trình như sau: bọn họ thừa lệnh khởi hành, trên đường đến sách Man Mêpu thì Hoàng Phú mang bệnh trở về. Bọn họ có ba người từ Mêpu đi về phía Bắc qua các sách Man. Đêns sách Man Côn Hiên thì đi về phía Tây Bắc qua sách Man.Ngày 29-5 đến sông Tô Sa thì gặp mưa, nước lũ lớn không thuyền nào có thể qua sông, bèn quay lại phía Nam. Ngày 8-7 thì đến sống Đạ Đờng rộng khoảng 5-6 mươi trượng nước đục ngầu. Người Man gọi nước là “Đạ”, lớn là “đờng” (cũng như người Việt gọi là “Sông lớn”). Từ sách Man Mêpu đến dòng sông Tô Sa, dọc đường phần nhiều là núi cao. Từ Côn Hiên đến sông Đạ Đờng đều là đất bằng, địa thế rộng rãi, có thể khám xét, lập đồn điền khẩn hoang”. Vua Tự Đức sau đó đã đồng ý cho Nguyễn Thông khai thác Sơn quốc. Nhưng về sau, thực dân Pháp ở Nam Kỳ phản đối, buộc vua Tự Đức phải huỷ bỏ công trình này (vào năm 1877). Vào những năm cuối thế kỷ XIX, nhà cầm quyền Pháp đã yêu cầu bác sĩ Alexandre Yersin (quốc tịch Pháp) thực hiện chuyến thám hiểm vùng Tây Nguyên. Thật bất ngờ chính vị bác sĩ này là người đầu tiên đặt chân lên cao nguyên Lang Bian (đỉnh cao nhất ở Đà Lạt) và thung lũng Dan Kia huyền bí. Theo hồi ký đăng trên Revue Indochine (Tạp chí Đông Dương) năm 1942, Yersin công bố: ông đã tìm ra Đà Lạt vào ngày 21-6-1893. Hồi ký của Yersin có đoạn viết: “Cảm tưởng của tôi thật sống động khi từ rừng thông đi ra, tôi đặt chân lên bờ cao nguyên rộng lớn, trơ trụi và mấp mô, chế ngự bởi ba đỉnh núi Lang Bian. Những gợn sóng của nó làm tôi nhớ lại mặt biển bị dày vò do một đợt sóng vĩ đại như người ta thường thấy ở duyên hải An Nam tiếp theo một trận bão lớn. Sự mát lành của khí trời đã làm tôi quên đi sự mệt nhọc và tôi nhớ lại sự vui mừng mà tôi đã cảm thấy khi chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi y hệt như một cậu học sinh trung học…”. Trong một đoạn khác Yersin mô tả một số địa danh ở cuối thế kỷ XIX: “Tôi đã đi qua suốt bề ngang của cao nguyên để đến làng Thượng Đan Kia, may mắn biết chừng nào. Ơû ngay trên bờ sông sông lớn (sông Đạ Đờng), dưới chân rặng Lang Bian, nổi bật cao nguyên với độ cao 2100m”. Đến đây một câu hỏi được đặt ra: bác sĩ Yersin đã lên cao nguyên bằng đường nào? Theo tài liệu để lại bác sĩ Yersin đi từ miền Nam ra (theo sông Đồng Nai) và từ Phan Rang, Phan Thiết lên. Bài viết của linh mục Cassaigue khẳng định: bác sĩ Yersin lên cao nguyên bằng đường Phan Rang và nhờ linh mục Robert dẫn đường. Cuộc thám hiểm cao nguyên Liang Bian của bác sĩ Yersin được xem là hết sức quan trọng, đánh dấu sự ra đời của thành phố Đà Lạt hôm nay. Sau cuộc thám hiểm của bác sĩ Yersin, chính phủ Pháp đã cử một đoàn khảo sát lên Liang Bian. Đoàn này do đại uý Thouard cầm đầu có nhiệm vụ nghiên cứu để thiết lập một con đường lên Liang Bian. Phải mất một tháng ròng rã, đoàn đã đến trú tại Đan Kia rồi làm việc tại đây hơn một tháng, sau đó về lại Sài Gòn. Kết quả khảo sát cho thấy có thể thiết lập con đường từ Phan Rang đi Đơn Dương và theo thung lũng Đa Nhim qua đèo Prem lên Đà Lạt. Năm 1899, đại uý Guinet được chính phủ Pháp giao nhiệm vụ cầm đầu một đoàn dân công thiết lập con đường lên cao nguyên. Trong suốt 13 tháng, đoàn đã làm xong con đường không trải đá dài 120km từ Cửa Nại (cách Phan Rang 7km) qua Xomgon, Đơn Dương, Đà Lạt đến Đan Kia. Điều đáng chú ý là trong đoàn khảo sát này có mặt bác sĩ Etienne Trardiff tài ba. Oâng đã dày công nghiên cứu về đất đai, khí hậu, thảo mộc, cũng như các điều kiện cần thiết khác cho một thành phố nghỉ dưỡng ở hai điểm Đan Kia và Đà Lạt. Ít lâu sau, ông làm bản phúc trình cho toàn quyền Đông Dương Doumer, phân tích kỹ các mặt thuận lợi của Đà Lạt hơn Đan Kia như: vệ sinh, đất đai, độ cao, nước, không khí, thảo mộc và giao thông. Phân vân trước hai ý kiến của Yersin (chọn Đan Kia) và Tardiff (chọn Đà Lạt), toàn quyền Doumer quyết định đích thân xem xét hai địa điểm trên vào năm 1899. Cuối cùng, sau cuộc thám hiểm này, Doumer theo đề nghị của Tardiff chọn Đà Lạt thay Đan Kia làm thành phố nghỉ dưỡng. Công cuộc xây dựng thành phố bắt đầu từ năm 1899, Như vậy thành phố Đà Lạt được hình thành trong một thời gian khá dài: gần 100 năm (1800-1900). Thai nghén trong lòng mẹ Việt Nam gần 100 năm, nhưng nhờ có “à đỡ”là bác sĩ nước ngoài, thành phố mới được khai sinh. Ngày 21-6-1893, bác sĩ Yersin đến Đà Lạt; đầu năm 1899, bác sĩ Tardiff lên nghiên cứu tình hình đất đai, thảo mộc để thuyết phục toàn quyền Doumer thám du Đà Lạt để sau đó quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ dưỡng. Ba sự kiện ý nghĩa trên đã khai sinh ra thành phố du lịch và nghỉ dưỡng ngày nay. Dĩ nhiên, chúng ta không thể quên các dân tộc bản địa tại Đà Lạt, các đoàn cư dân người Việt lên cao nguyên từ cuối thế kỷ XVIII và nhất là cụ Nguyễn Thông-người đầu tiên thám hiểm Sơn quốc, phát hiện ra vùng đất Nam Tây Nguyên. Đó là vào những năm 1862-1877. (Theo TGM số 236)
|