Trong 50 năm đầu của thế kỷ XX, những phát minh và khám phá mới đã làm biến đổi cả đời sống hàng ngày và thế giới khoa học. Người dân bình thường đã có máy truyền thanh, phương tiện liên lạc, thuốc men, xe hơi… Các nhà khoa học đã tạo ra ngành vật lý mới với những phát hiện bất ngờ về lực che giấu trong vật chất. Thế giới hiện đại đã dần hiện ra. Các nhóm máu: (Karl Landsteiner) Những nỗ lực để truyền máu trước đây thường giết chết bệnh nhân. Năm 1901, nhà nghiên cứu bệnh lý học người Aùo, Karl Landsteiner đã lý giải được nguyên nhân trên, trừ những trường hợp đối chiếu cẩn thận khi truyền máu, tại sao các tế bào hồng cầu trong thân thể người này lại phá huỷ tế bào hồng cầu của người khác. Oâng khám phá ra ba nhóm máu và gọi chúng là A, B và O. Chỉ máu cùng nhóm mới có thể hoà lẫn nhau an toàn. Sau đó ông tìm được nhóm thứ tư AB và nhiều nhóm máu khác nữa. Ngoài việc đảm bảo an toàn khi truyền máu, phân loại các nhóm máu còn giúp loại bỏ những kẻ khả nghi trong các vụ giết người. Đường một ray: (Eugen Langen) Monorail là tuyến đường xe lửa chỉ có một đường ray. Tuyến đường một đường ray đầu tiên được xây dựng năm 1880 có đường ray ngay bên dưới đường bộ. Loại đường xe lửa lý thú hơn nằm bên trên và treo chiếc xe lơ lửng thường được thấy trong các công viên giải trí, nhưng cũng được dùng để vận chuyển nặng. Đường ray thành công đầu tiên đến nay vẫn con được dùng chạy dọc theo sông Wupper ở Wuppertal thuộc tây bắc nước Đức, Eugen Langen thiết kế năm 1901, người được biết đên nhiều hơn với động cơ đốt cháy bên trong. Phanh đĩa (Frederick Lanchester): Hầu hết các loại xe hơi ngày nay đều dùng phanh đĩa. Là bộ phận có một đĩa kim loại bị kẹp chặt khi phanh. Hệ thống này được một nhà tiên phong trong lĩnh vực xe hơi và cũng là người đầu tiên làm ra chiếc xe hơi mà mọi bộ phận đều là hàng nội của Anh đăng ký độc quyền mẫu mã năm 1902. Phanh đĩa của Lanchester lẽ ra còn ồn ào hơn vì những gờ phanh bằng đồng, nhưng nhờ Herbert Frood một kỹ sư người Anh khác thay thế bằng các gờ amiăng (asbestos) nên đã giảm ồn. Dao cạo an toàn (King C. Gillette): king C. Gillette đã làm thay đổi cuộc sống của những người đàn ông trên khắp thế giới khi ông nghe theo lời khuyên của một đồng nghiệp và phát minh ra “cái gì đó có thể vứt bỏ sau khi dùng”. Đó là lưỡi dao cạo dùng một lần được gắn vào cán cầm an toàn. Có lẽ người ta cũng chẳng mấy thích thú khi cứ phải thay lưỡi dao cạo mới nhưng họ thật sự quan tâm đến loại dao an toàn và sử dụng nhanh chóng hơn loại dao “cắt đứt họng” có lưỡi mở ra như trước đây. Năm 1904, lưỡi dao cạo Gillette đã bán được hơn 12 triệu cái. Điều hoà nhiệt độ (Willis Carrier): Thật chăntg thoải mái chút nào khi phải sống trong một căn hộ kín như bưng lại nóng và ẩm thấp. Khi không khí đã bị bão hoà hơi nước thì mồ hơi không thể bay hơi được. Năm 1902, kỹ sư Mỹ, Willis Carrier nhận thấy sự làm lạnh có thể giải quyết được cả sức nóng lẫn độ ẩm. Oâng thiết kế “thiết bị xử lý không khí” dùng để hạ nhiệt độ tới mức hơi ẩm đông đặc lại. Lúc ấy nước bị dẫn đi, làm cho không khí mát và khô dễ chịu. Nội tiết tố (Willians Bayliss, Ernest Starling): Nội tiết tố là những hoá chất điều khiển cơ thể như adrenaline, chất khiến tim đập mạnh khi bị căng thẳng hoặc sợ hãi. Nội tiết tố đầu tiên được nhà sinh lý học người Anh, Willians Bayliss (sau được phong bá tước) và Ernest Starling khám phá năm 1902. Họ nhận thấy ruột đưa một hoá chất vào dòng máu trong cơ thể khi nó nhận được thực phẩm, làm cho tuyến tuỵ tiết ra dịch tiêu hoá và gọi hoá chất này là sự bài tiết nội tiết tố hoá học. Sau đó Starling đặt ra từ “hormone’, từ này xuất xứ từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là đặt vào tình huống vận động. Đồng hồ báo thức biết pha trà (Frank Clarke): Dù dân Anh có thú uống trà buổi sáng, nhưng chỉ có một số rất ít trong số họ dám bỏ tiền ra tậu người pha trà tự động do Frank Clarke chế tạo ra năm 1902. Có lẽ nó là bước khởi đầu cho ngành công nghiệp tự động. Nếu ta đang thiu thiu ngủ, mà nước sôi, hơi nước từ bộ máy đồng hồ đánh lửa bên dưới cái ấm tự vận hành cỗ máy để rót nước vào bình trà, đồng thời làm chuông reo lên- bạn dậy để uống trà đi! Bộ phận đánh lửa- Bugi (Robert Bosch, G. Honold): Đốt cháy nhiên liệu là vấn đề nan giải trước đây của những động cơ đốt cháy trong. Có một cách giải quyết là phóng lửa nhờ dòng điện chạy qua các bộ phận kết nối điện bên trong xilanh. Năm 1902, kỹ sư người Đức, G, Honold, người đang làm việc cho kỹ sư Robert Bosch đã tìm ra một phương pháp tốt hơn. Oâng dùng dòng điện có điện thế cao hơn cho hai cực tiếp xúc với nhau với khoảng cách cố định giữa hai cực và bộ phận đánh lửa. Hiện nay bộ phận đánh lửa được điều khiển bằng điện, điện thế cao tạo ra tia lửa giữa khoảng cách của hai cực đốt cháy nhiên liệu. Gấu nhồi bông (Morris Mitchtom, Margarete Steiff): Tổng thống Mỹ lừng danh Theodore “Teddy” Roosevenlt) càng nổi tiếng hơn khi ông tham dự một cuộc săn năm 1902 nhưng đã từ chối bắn vào một con gấu con chưa biết tự vệ. Lợi dụng sự kiện này, một người bán lẻ ở New York đã bán ra những con gấu bọc vải nhung lông với những đôi mắt bằng nút ủng gắn đủ chân tay và gọi chúng là “những con gấu của Teddy”. Oâng đã thắng đậm trong thương vụ này và tên mặt hàng của ông sớm trở thành “những chú gấu Teddy”. Cũng trong thời gian này, nhà thiết kế người Đức, Margarete Steiff bắt đầu làm ra những con gấu giống như vậy. Dù chỉ là những con gấu nhồi bông thô thiển nhưng những chú gấu của Steiff cũng đã trở thành mặt hàng bán chạy nhất thờ đó. Máy hút bụi (Hubert Booth): Những thiết bị trước đây dùng để dọn dẹp bụi bặm thường chỉ cố gắng để thôii chúng đi. Khi kỹ sư người Anh đặt một chiếc khăn tay lên miệng rồi hút lớp bọc ngoài của chiếc ghế. Lớp bụi bẩn mà ông gom được trên khăn chứng tỏ dùng lực chân không để dọn dẹp bụi bẩn tốt hơn. Bắt đầu từ năm 1902, công ty của ông chuyên làm máy hút bụi, nhưng do chúng quá lớn nên phải được đặt bên ngoài nhà. Điện tâm đồ (Willem Eithoven): Các bác sỹ thường xuyên kiểm tra nhịp tim của bệnh nhân bằng cách ghi lại các tín hiệu của nó, được gọi là điện tâm đồ (electrocarrdio gram-ECG). Người đầu tiên đo tín hiệu của tim là nhà sinh lý học người Hà Lan, Willem Eithoven. Oâng dùng một thiết bị cảm ứng được ông làm ra năm 1903 để tìm hiểu một quả tim bình thường hoạt động như thế nào. Năm 1913, ông xác định được những vị trí đặc biệt ở tim mà các bác sỹ phải kiểm tra. Máy bay (Orville Wright, Wilbur Wright): Dù đã thành công trong việc bay lên bầu trời bằng những chiếc khinh khí cầu từ năm 1783, nhưng con người vẫn chưa thoả mãn. Họ muốn bay lên như chim chứ không phải cứ lượn lờ nhờ vào gió. Chuyến bay thực sự đầu tiên được thực hiện ở phía Bắc Carolina, Mỹ ngày 17 tháng 12 năm 1903. Nhờ người anh em ruột trông chúng, Orville giữ cho chiếc máy bay mỏng manh của họ ở trên không được chừng 12 giây. Anh em nhà Wright đã giải quyết được hai vấn đề quan trọng là làm cho một cỗ máy cất cánh và điều khiển nó trên đường. Tên lửa nhiều tầng (Konstantin Tsionkovsky): Nhà khoa học Nga, Konstantin Tsionkovsky đã từng nghĩ về một chuyến bay liên hành tinh từ năm 1895. Năm 1903, ông đề nghị một phương pháp để đưa những vật thể lớn lên không gian, đó là dúng loại tên lửa nhiều tầng có thể loại bỏ các tầng khi đã dùng hết nhiên liệu. Tất cả những tên lửa chủ lực ngày nay đều dùng phương pháp này.
|